Bốn mươi năm bè bạn

Kim Dung (khóa 1) – 19/12/2005 

Kể từ lần họp mặt năm 2000 cùng gia đình KMTD tại Quận Cam, đám bạn bè khóa tiền phong chúng tôi có một ước hẹn riêng là cứ mỗi 5 năm sẽ cùng nhau gặp lại một lần để "quậy". Cho nên mới từ đầu năm nay mọi người đã tới tấp mail đi mail lại nhắc nhở kêu gọi nhau về buổi họp mặt này.

Lúc đầu chúng tôi cũng dự định dành ra một tuần lễ sang Cali gặp bạn bè mà thôi, nhưng suy đi nghĩ lại từ Âu Châu sang Mỹ mà đi chỉ có một tuần thì quả thật hơi phí vé máy bay, cuối cùng đành gom góp hết những ngày phép còn lại vừa đủ 2 tuần lễ làm chuyến du hí xứ Cờ Bông.

Theo sự rủ ren ban đầu từ Âu Châu có: mõ làng tây Trương Cam Bảng, chị cả Nguyễn thị Thái An, Quan Vinh, Vũ thị Hồng Đức và tôi; nhưng ngay từ những ngày đầu Mõ nhà tây đã tuyên bố "rất tiếc bận lo vợ dại con thơ nên hẹn lần sau" (ở đây xin mở một dấu ngoặc để nói riêng với Mõ: lý do "con thơ" thì chấp nhận được nhưng "vợ dại" là không đúng rồi vì Chị Nga tháo vát đảm đang khôn khéo như vậy mà bị cho vào danh sách "vợ dại" thì những bà vợ khác trên đời chắc phải bị liệt vào loại "vợ khờ" rồi !) – Quan Vinh và Hồng Đức thì không thu xếp được thời gian nên cuối cùng chi còn lại hai người là chị cả Thái An và tôi.

Và vì là những người đến từ xa nhất nên cả hai chúng tôi đều đến Mỹ trước ngày họp mặt một tuần. Còn các bạn ở xứ Cà Na Đá vì là láng giềng của Mỹ không gấp gáp gì lắm cho nên gần đến ngày họp mặt mới sang Cali.

Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 09 các biện pháp an ninh khi vào Mỹ được áp dụng vô cùng chặt chẽ; ngay tại phi trường Frankfurt trước khi lên máy bay ngoài ba lần kiểm soát thông thường như: sổ thông hành, hành lý xách tay và người, boarding card; tất cả hành khách đi Mỹ còn chịu thêm hai lần khám nữa là: sổ thông hành và boarding card, hành lý xách tay và người, hai lần khám sau rất là kỹ lưỡng và cẩn thận thậm chí giày và dây nịch cũng phải cởi ra luôn, đặc biệt những hành khách gốc Trung Đông được chiếu cố khá tận tình, những chiếc khăn đội đầu hay mạng che mặt đều được yêu cầu mở ra để nhân viên an ninh "ngắm nghía". Hổng biết giới chức an ninh tại phi trường trước đó có được coi cuốn DVD nhạc của trung tâm Asia hay không mà họ cũng chuân bị hay lắm: nữ hành khách được nữ nhân viên tiếp đón do đó dù có "coi mặt" vẫn không "phải cưới".

Chuyến bay của chúng tôi cất cánh lúc 10 giờ sáng nên hành trình sẽ bay vào ban ngày, đây là điểm hấp dẫn nhất bởi tôi rất thích nhìn cảnh vật ở mặt đất từ trên cao, nên lần đi chơi nào tôi cũng đặt chỗ ngồi sát cửa sổ và không bao giờ ngủ (hoặc ngủ rất ít) để dán chặt mắt vào cửa sổ nhìn ra bên ngoài:

* Khi phi cơ bay thấp mình có thể thấy bao quát hết các thành phố ở đó có các mái nhà san sát, những chiếc xe đủ loại (xe hơi, xe tải thậm chí cả xe lửa) chạy tới chạy lui trên đường hay trên xa lộ; những con sông uốn cong ngoằn ngoèo có những chiếc tàu hay những xà lan chở hàng chạy trên đó vẽ thành những vệt sóng dài sau đuôi v.v. ; những khu rừng xanh ngắt hay đủ màu khi vào Thu;  những rặng núi có chỗ mang màu đen của đá, có đoạn lại mang màu trắng do tuyết phủ;  hoặc biển cả mênh mông nhiều màu lúc xanh dương lúc xanh lục lúc hơi nâu tùy theo độ sâu của biển và độ trong của nước; tất cả đều nhỏ xíu nhưng rất sinh động và đẹp.

* Lúc phi cơ bay cao qua khỏi các tầng mây không còn thấy được mặt đất nữa, nhìn ra ngoài thấy mây trắng xếp hàng hàng lớp lớp y như các bức tranh vẽ cảnh thượng giới trong truyện Tây Du Ký vậy, chỉ thiếu có cái cổng thiên đình và các mái thiên cung mà thôi. Những lúc ấy tôi thường nghĩ có lẽ cảnh thiên đường hay cõi cực lạc chắc cũng vậy thôi, nhưng mỗi lần kể lại cảm tưởng này t hì các em tôi thường cười nói tôi già mà còn mộng mơ chuyện con nít, không thực tế chút nào!

* Nếu phải bay vào ban đêm thì chúng ta sẽ được dịp nhìn thấy tùy theo số ánh đèn nhiều hay ít để biết đó là các thủ đô, các thành phố hoặc các làng mạc. Qua mỗi thủ đô thì các ánh đèn tạo thành những hình kiểu khác nhau rất đẹp.

Lần này đường bay từ Âu Châu đánh vòng qua Greenland đến vùng đầm lầy của Canada rồi vào không phận Hoa Kỳ dọc dãy Rocky Mountain do đó không thấy được nhiều thành phố, chỉ thấy biển, đầm lầy mãi đến khi bay dọc rặng Rocky thỉnh thoảng thấy được vài thị trấn nhỏ lẻ loi cô độc vùng núi. Nhưng khi đến gần Los Angeles thì tuyệt vời, thành phố sầm uất được xây cất theo đường thẳng ngang dọc như bàn cờ vậy.

Đặt chân xuống đất Mỹ cũng vẫn chưa yên đâu, mọi người còn phải qua một ải kiểm tra sổ thông hành, lăn tay và "coi mắt" nữa.

Cuối cùng thì cũng lấy được hành lý, đang dòm qua ngó lại tìm lối ra thì nghe tiếng loa hướng dẫn hành khách bằng tiếng … Việt Nam! Hả? Tiếng Việt Nam được sử dụng tại một phi cảng quốc tế ?!?! Ố là la. Hai chị em tôi hí hửng nói với nhau về điều ngộ nghỉnh này thì có một giọng Việt Nam ngay sau lưng: "Cháu ơi! người Việt mình ở đây nhiều và mạnh lắm nên ngoài tiếng Mỹ còn có tiếng Việt nữa", giật mình quay người lại thì ra kẻ nói câu vừa rồi là một bác nhân viên làm việc trong phi trường, nhìn quanh cũng có khá nhiều người nói tiếng Việt râm rang. Đây là lần đầu tiên tôi đi du lịch mà gặp đồng hương nhiều như vậy nên hớn hở lắm. Đã thiệt !

Vừa ra khỏi cửa thì gặp Ông Phát đứng đón. Nhiều năm không gặp nhưng vẫn nhận được do nét mặt Phát cũng không khác xưa nhiều lắm, vẫn giọng nói nhỏ nhẹ, chậm rãi và hiền như ngày nào. Thuở còn ở Kiểu Mẫu tôi có biết Phát (do cái tên khá đặc biệt) nhưng Phát lúc đó thì rất ít nói còn tôi cũng không thuộc loại ồn ào cho lắm nên chúng tôi không có những sinh hoạt chung nào. Chỉ có mấy năm gần đây qua diễn đàn KM mới trở nên thân thiết. Tuy chỉ thân thiết qua mail nhưng khi nghe nói tôi sẽ qua Mỹ kỳ này Phát đã tình nguyện sẽ đến "đón Chị tại phi trường và nếu cần sẽ làm tài xế cho các Chị trong thời gian các Chị lưu lại quận Cam" (cảm động chưa?)

Phát đưa chúng tôi về nhà Phạm Gia Vinh nghỉ qua đêm, vì hôm sau tôi có một tour đi thăm Las Vegas và Grand Canyon.

Đến nhà, Vinh mở cửa thấy tôi mừng chào rối rít, cứ luôn miệng kêu: "Trời ơi 34 năm không gặp KD, KD vẫn vậy không khác tí nào!"

Đúng vậy! 34 năm - kể từ ngày ra trường 1971 đến nay - chúng tôi chưa gặp lại nhau, giờ gặp lại người bạn thân ngày nào: Vinh lùn vẫn lùn không cao lên được bao nhiêu, vẫn nhiệt tình và xởi lởi, điểm khác xưa là có thêm bộ râu mép và thân hình hơi phì nhiêu (có lẽ được em xã nuôi khá kỹ).

Vinh giới thiệu tôi với Tố Tâm – em xã của Vinh – Chị Tâm có dáng vẻ của một phụ nữ quán xuyến gia đình, và quả thật ông tơ bà nguyệt cũng khéo sắp xếp chuyện vợ chồng lắm: Gia Vinh nói nhiều và nhanh bao nhiêu thì Tố Tâm nói chuyện từ tốn chậm rãi bấy nhiêu. Phải vậy chứ! Nếu không thì tội nghiệp lỗ tai ông hàng xóm lắm. Tuy ở nhà Vinh có hai đêm nhưng tôi cũng được may mắn thưởng thức tài nấu ăn của Chị Tâm, tới giờ tôi vẫn còn tương tư món súp Peking chị nấu (đứa em tôi cứ tiếc là không có thời giờ để học nghề này của Chị). Mừng cho bạn vàng gặp được người nội trợ đảm đang.

Trong khi chờ đợi các bạn từ Canada sang chúng tôi tham gia hai chuyến du lịch ngắn ngày:

1.- Tour đi Las Vegas + Grand Canyon: Thoạt đầu khi bàn về chuyến đi này tôi còn lưỡng lự không muốn đi. Chị Cả Thái An nhà mình tưởng tôi không thích đi Las Vegas vì sợ "phạm giới nhà Phật" - trời ơi! tôi thuộc loại tu hành "đạo đứt …họng" chứ đâu phải "đạo đức, phạm hạnh" như Thiền sư Ông Phát - vả lại đi Las Vegas là chắc chắc 100% phạm giới rồi; này nha: nếu ở Las Vegas mà oánh bài thì phạm "ngũ giới",  còn như không oánh bài thì phạm "cờ bạc giới" , đàng nào cũng phạm. Sở dĩ tôi lưỡng lự vì mười năm trước có dịp sang Cali, gia đình một người bạn quen đã dắt đi Las Vegas rồi, nhưng Grand Canyon thì chưa biết, cuối cùng vì Grand Canyon nên ghi danh tham dự tour này.

- Las Vegas là một thành phố không bao giờ ngủ, ngoài ra hầu như tất cả những công trình đặc biệt nổi tiếng của con người trên trái đất này đều được mang về đây: từ Ba Lê với tháp Effel,  Nữu Ước và tượng nữ thần tự do, Cairo với Kim tự tháp khổng lồ và các tượng nhân sư ở xứ sở Ai Cập huyền bí, cho đến cả thành phố Venezia nổi tiếng với những con kênh đào của  Ý Đại Lợi, v.v.

- Nhưng riêng với tôi thích thú nhất là Grand Canyon: Trên đường từ Las Vegas đến Grand Canyon chúng tôi đi qua một đập thủy điện mang tên Hoover Dam, đập thủy điện được xây trên giòng sông Colorado tại ngay biên giới giữa hai tiểu bang Nevada và Arizona, do đó đi qua  đập bạn sẽ thấy hai cột trụ lớn chỉ hai giờ khác nhau vào mùa Hè thì giờ hai bên giống nhau nhưng vào mùa Đông thì cách nhau một tiếng đồng hồ, một phía là giờ của Nevada và bên kia (chỉ cách vài bước chân) là giờ của Arizona. Dòng sông Colorado khá dài bắt nguồn từ rặng Rocky Mt. chảy qua 7 tiểu bang: Wyomin, Utah, Colorado, New Mexico, Arizona, Nevada và California.

Đập thủy điện Hoover cung cấp điện cho toàn thành phố Las Vegas và tiểu bang Nevada. Và vì có một chức năng quan trọng như vậy nên trước khi mọi xe cộ đi vào khu vực này cũng phải chịu một sự kiểm soát cả xe lẫn người.

Qua khỏi đập Hoover là vào địa phận tiểu bang Arizona, cảnh vật hai bên đường chỉ là những bụi cây thấp dài ngút ngàn tận các chân núi ở trong xa. Nhìn cảnh này ta có thể liên tưởng một cách khá dễ dàng đến loại phim miền viễn tây của Mỹ với những anh chàng cao bồi phi ngựa trên các thảo nguyên hoặc các túp lều mọi da đỏ dựng thành làng giữa đồng trống.

Càng gần đến Grand Canyon cây cối bắt đầu xuất hiện nhiều, đa số là các loại tùng bách khá già nhưng do thời tiết khắc nghiệt cũng như địa thế của vùng sa mạc gió thổi đủ hướng nên cây mọc không cao lắm và mang hình dạng uốn éo của bonsai rất đẹp. Có thể nói không ngoa: thiên nhiên tại đây chính là những nhà nghệ thuật bonsai số một trên đời này!

Khu vực Grand Canyon là khu công viên thiên nhiên quốc gia nên được giữ gìn chăm sóc khá công phu, toàn bộ các kiến trúc ở đây đều bằng gỗ. Đi bộ một đoạn khá xa mới đến được bờ vực Canyon.

Wow …..

Cả một hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ đầy màu sắc hiện dần trước mắt càng lúc càng gần theo bước chân đi tới. Cũng là đứng giữa đất trời lồng lộng nhưng trước cảnh sắc quá hùng tráng và vĩ đại này khiến tôi cảm thấy con người sao mà quá nhỏ nhoi, yếu đuối; không giống cảm giác thi vị có được khi đứng giữa rừng núi Lô Sơn chập chùng bao la ở Trung Hoa như câu thơ:

Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều,

Vị đáo thiên ban hận bất tiêu,

Đắc đáo nguyên lai vô biệt sự,

Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều.

Cũng không giống cảm giác "thoát vòng tục lụy" khi đứng trên đỉnh các ngọn của Ngũ Đài Sơn nhìn mây bay là đà quanh chân. Có lẽ tại vì ở đây không có núi cao, chỉ có vực sâu và nơi mình đứng chính là đỉnh vực, nên tầm nhìn mông mênh không bị che chắn, và Canyon quả là "Grand", nó khổng lồ đến nỗi độ lớn của con người không thấm thía gì cả. Khi đi dọc theo bờ vực hoặc những lúc bước ra ngoài để chụp hình đôi lúc tôi cũng cảm thấy "lạnh cẳng" khi nghĩ lỡ mình trượt chân xuống dưới thì chắc giống trái chuối dập quá. Chúng tôi cứ thả bộ dài theo Grand Canyon hơn hai tiếng đồng hồ nhưng nhìn vào bản đồ thì mới "nhích" được độ một phần mười của chiều dài đành phải quay trở về mà lòng vẫn còn đầy luyến tiếc. 

Sau chuyến đi này tôi có lời khuyên những ai đến tiểu bang Cali của Mỹ thì cũng nên cố gắng dành ra vài ba ngày đi thăm hai nơi này. Bảo đảm đáng đồng tiền bát gạo !

2.-Tour thứ nhì ngắn hơn chỉ có hai ngày đi thăm thành phố Ensenada của Mễ Tây Cơ. Trên đường từ Quận Cam đến Ensenada chúng tôi đi ngang qua thành phố San Diego, hai bên xa lộ đoạn này được trồng khá nhiều hoa, và tiểu bang Cali là tiểu bang đầy nắng ấm do đó có nhiều loại hoa miền nhiệt đới như hoa giấy, trúc đào,… đặc biệt hoa giấy ở đây có rất nhiều màu: đỏ, cam, vàng, trắng, tím rất là đẹp. Bắt đầu từ San Diego đã thấy nhà cửa có kiến trúc theo kiểu Tây Ban Nha, càng đi dần về biên giới Mễ Tây Cơ các kiến trúc này càng rõ nét hơn.

Trên đường đi chúng tôi dừng lại thăm hải cảng San Diego, tại đây chúng tôi được giới thiệu chiếc hàng không mẫu hạm Midway từng tham chiến ở Việt Nam giờ được xây dựng thành một viện bảo tàng nổi; cũng từ ngoài khơi hải cảng chúng tôi được giới thiệu sơ về thành phố San Diego với các sân bay quân sự, các căn cứ hải quân Hoa Kỳ, chiếc tàu buồm cũ nhất thế giới tên là 1863 Star of India, khách sạn nổi tiếng thế giới Del Coronado cũng như toàn bộ phong cảnh thành phố mới San Diego.  

Rời hải cảng chúng tôi tiến dần về Mễ Tây Cơ, vừa qua biên giới là thấy ngay một xã hội hoàn toàn khác hẳn, dân chúng sinh sống nơi đây khá nghèo nàn, sự nghèo nàn được nhìn thấy qua những căn nhà tôn chắp vá, những cửa hàng cũ kỹ, những người nông dân lam lũ trên các cánh đồng rau cải; tuy nhiên khu vực này có vẻ đang trên đường phát triển với những căn nhà mới cất khá đẹp trên sườn núi hoặc sát bãi biển, theo lời kể lại thì những căn nhà này hoặc được cất để làm khách sạn cho du khách đến nghỉ hè, hoặc bán cho những gia đình Mỹ giàu có làm nơi dưỡng sức, hoặc được xây bởi những người Mỹ khá giả muốn có một cơ ngơi yên tĩnh trong lành với gió biển và khí trời ấm áp.

Con đường dẫn đến Ensenada chạy dọc theo bờ biển, biển ngày hôm đó thật yên, thật bình đúng như tên Thái Bình Dương. Mười năm trước khi đến Cali tôi cũng đã có dịp đi dạo một đoạn bờ biển, lúc đó là buổi chiều nhìn mặt trời lặn từ từ, khối lửa tròn đỏ ối chìm dần tận cuối chân trời tưởng tượng bên kia bờ là quê hương vời vợi, nhớ da diết đến bài ca Người Di Tản Buồn. Lần này trên đường đi nắng rất ấm nhưng không hiểu sao khi nhìn ra biển tôi cũng lại nhớ đến bài ca Người Di Tản Buồn, dõi mắt nhìn về xa ngút vẫn không thấy được quê hương bên kia bờ đại dương!

Càng đi gần về thành phố nhà cửa càng nhiều hơn với những cửa hàng nho nhỏ, các nhà hàng, hộp đêm, một vài khách sạn cũng khá khiêm nhường. Kiến trúc nhà cửa cũng như lối sống của dân chúng rặt ảnh hưởng Tây Ban Nha; chúng tôi chưa vội vào khách sạn mà được đưa đến một thắng cảnh của vùng này đó là bờ biển La Bufadora, đường đi quanh co xuyên qua những thôn làng thưa thớt và những vùng đồi vắng vẻ, khi thì xe chạy sát biển, lúc vào sâu trong nội địa để rồi cuối cùng cũng đến nơi. La Bufadora là một bờ biển đá dựng rất hẻo lánh, nơi đó có một hẻm sâu khi nước biển đánh vào hẻm đá thì nước sẽ tung bắn lên thật cao như núi lửa phun nham thạch, nhưng nham thạch ở đây không phải màu đỏ nóng rực của dung nham mà là màu trắng lạnh của nước biển. Ngay tại La Bufadora này chúng tôi có một kỷ niệm khá tiếu lâm: Số là cùng đi trong đoàn du lịch chỉ có bốn người Việt Nam là hai chị em chúng tôi và một cặp vợ chồng già từ Úc Đại Lợi đi du lịch vòng quanh thế giới, còn kỳ dư là người Hoa, do đó bốn người Việt tự nhiên thân thiết vô cùng; đi đến đâu hai bác già cũng thường nhờ chúng tôi chụp hình hai ông bà để đem về Úc khoe cùng con cái. Tại La Bufadora cũng vậy, hai ông bà muốn chụp cảnh nước bắn tung lên trời, hai minh tinh đứng sẵn và camera cũng chuẩn bị chờ hể nước phun lên là „click“, nhưng chờ hoài chờ hoài … gần mười phút nước vẫn không chịu bắn lên cao, tội nghiệp hai lão tài tử cười lâu quá miệng mỏi muốn méo xuống còn camera-girl thì đứng nhắm hai chân muốn run luôn mà nước cũng hổng chịu tung lên, cuối cùng thì một tiếng ầm vang lên và những tia nước bắn lên cao khỏi đầu người đứng khoảng hơn sải tay … click! OK! tiếng OK vừa thoát ra khỏi miệng thì ầm - ầm - ầm những chùm nước bắn cao ngất ngưỡng mấy thước tây luôn, những tia nước tung tóe liên tiếp rào rào như muốn chọc quê  những kẻ canh chụp hình nó mà chụp hụt, mọi người ôm bụng cười ngắt nga ngắt nghẻo. Thầy chạy thiệt! Nước cũng bày đặt giỡn mặt du khách nữa.

Sau một đêm ngủ lại Ensenada cho biết mùi khách sạn tỉnh nhỏ, hôm sau chúng tôi lên đường trở về Mỹ, khi qua biên giới Mỹ-Mễ lại thêm một chuyện vui nho nhỏ nhưng cũng đủ làm cho đoàn một phen cười nắc nẻ: lúc đến gần biên giới thì người tài xế kiêm hướng dẫn viên du lịch cho biết chúng tôi phải mang theo xuống hết tất cả mọi hành lý lớn nhỏ, chỉ có thể để lại trên xe những chai nước uống mà thôi, và sổ thông hành phải cầm sẵn nơi tay, chúng tôi sẽ phải đi qua một cổng kiểm soát giấy tờ và mọi hành lý được để vào một máy kiểm soát bằng quang tuyến X. Lời hướng dẫn này đưọc dặn đi dặn lại bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Hoa. Vì xe của đoàn chúng tôi là xe du lịch nhỏ loại 15 chỗ ngồi nên ông tài xế chạy đến thật sát trạm kiểm soát mới thả chúng tôi xuống. Mọi người lục tục xuống xe và đang lớ ngớ không biết làm sao nhập vào đoàn người đang từ từ đi qua trạm kiểm soát, vì chỗ chúng tôi vừa bước vào là ở khoảng giữa dảy người đang đứng xếp hàng, thời sao có một ông cảnh sát (đúng ra là nhân viên an ninh) đứng gần một chiếc máy quang tuyến thấy vậy mới ngoắc bà cụ trong đoàn đi trước tôi đến kiểm tra sổ thông hành. Thấy vậy tôi và những người còn lại cũng đi theo bà, đáng lẽ mọi người phải qua chặng kiểm soát hành lý song song với kiểm tra sổ thông hành nhưng hình như vì thiếu người nên chúng tôi chỉ bị coi sổ thông hành mà thôi/ Chúng tôi lại không biết điều này nên mọi người cứ đinh ninh mình sẽ phải qua một lần kiểm soát hành lý nữa, tuy nhiên vừa bước qua khỏi anh chàng cảnh sát thì thấy có một bảng ghi chữ Bus passenger và mũi tên chỉ ra ngoài, bà cụ người Hoa đi trước tôi đi quay lại chỉ tôi nên đi theo hướng này và xổ một tràng chí cha chí chét, thú thiệt vốn tiếng phổ thông của tôi tuy không đến nỗi như Việt Dũng: "Ngộ ái nị - Nị ái ngại - Ngộ ôm đại - Nị chát chát" (người ta chưa đồng ý mà ôm đại thì "chát chát" là phải rồi),  nhưng cũng chỉ đủ để hỏi thăm đường vài câu hỏi thăm căn bản và đi chợ  trả giá mà thôi chớ chưa biết được nhiều, nên đâu hiểu bà nói gì chỉ nghe và hiểu được "túi a ! túi a !" (nghĩa là đúng đó, đúng đó) tôi cũng nghi ngờ không biết đúng không vì mũi tên với chữ Bus passenger chỉ rõ ràng ra ngoài nhưng tất cả mọi người thì đang đi theo một hướng khác hoàn toàn không ai đi qua hướng chúng tôi đang đứng ?!?!?! Tôi bèn trả lời "quợ xiằng bũ túi" (nghĩa là tôi nghĩ rằng không đúng đâu) – "Túi! Túi!" và lại thêm một tràng chí cha chí chét (Bà bác ơi, bà nói nhiều quá nhưng con hổng hiểu gì hết trơn) tuy nghĩ vậy nhưng tôi cũng bước đại theo bà vì đi cùng đoàn thì nên đi chung có gì còn đỡ đần cho nhau. Khi tôi đi ra tới cửa vẫn không thấy ai kêu réo gì trở lại mặc dù có mấy nhân viên an ninh đứng ngồi gần đó nghe chúng tôi chóe chóe um sùm có quay qua nhìn nhưng làm thinh thì tôi nghĩ chắc đúng rồi nên quay lại bảo em tôi gọi những người đi sau (cũng đang theo hướng phía đông người mà đi tới) theo hướng ra ngoài. Thế là cả một nhóm Á Châu đi qua trạm kiểm soát một cái vù không đầy 10 phút; ra bên ngoài thấy xe đang chờ, bà lão người Hoa bấy giờ hớn hở kể cho tôi nghe là trước khi xuống xe ông tài xế đã chỉ cho Bà cách này để đi ra cho nhanh, nếu không phải đợi bên trong mất ít nhất cũng phải từ nửa đến một tiếng đồng hồ. À thì ra là vậy! Lên xe rồi câu chuyện được thuật lại ai nấy cũng cười hỉ hả.

Trên đường về chúng tôi ghé thăm nơi đặt chân đầu tiên của đoàn thám hiểm Tây Ban Nha xưa kia cùng với chiếc tàu nguyên thủy còn giữ lại. Nơi này giờ trở thành một khách sạn nhỏ; thăm khách sạn Del Coronado. Thăm ngôi làng đầu tiên của San Diego (Old town), dù ngôi làng đã cũ hàng trăm năm nhưng vẫn được giữ gìn khá sạch sẽ và nhà cửa vẫn còn chắc tốt. Ngôi trường học của làng chỉ có một lớp học xây từ năm 1865 với các bàn ghế, bảng viết, v.v. được ghi là 85% original/ Toà án còn nguyên vẹn nơi làm việc của ông chánh án, vành móng ngựa nơi cảnh sát đứng và còn cả nhà tù bằng sắt giam tội nhân. Bưu điện với chiếc xe ngựa nguyên thủy chở thư từ và các rương gỗ hoặc kiện hàng. Tiệm bán thực phẩm; quán ăn; quán trọ v.v. tất cả đều được giữ y như trạng thái ngày xưa, ngôi làng khá khang trang nhà cửa của dân chúng vẫn được giữ đúng tình trạng của nó nhưng được sử dụng làm cửa hàng bán các loại hàng hóa thức ăn, uống, vật dụng bằng da, quần áo, v.v. Các nhân viên bán hàng mặc những y phục theo kiểu ngày xưa rất hay và lạ mắt, nếu muốn đi xem cho thỏa mãn hết ngôi làng chắc phải cần đến ít nhất là nửa ngày nhưng rất tiếc chúng tôi không có nhiều thời giờ nên chỉ được "cỡi ngựa xem hoa" hai tiếng đồng hồ mà thôi.

Về trở lại quận Cam thấy trời còn sớm tôi bèn liên lạc với mấy người bạn đồng nghiệp cũ để thăm họ vì sợ khi gặp bạn bè Kiểu Mẫu sẽ không có thời giờ cho đồng nghiệp xưa, thế nào cũng bị lùng bùng hai lỗ tai.

Cuối cùng thì phái đoàn Canada cũng tới, hôm sau tôi được đưa tới phòng trọ để nhập bọn: Ôi! Nguyễn thị Tâm vẫn là ống điếu như ngày nào không thành được điếu Xì gà; Trương thị Phước cũng giọng nói không cần micro và trẻ đến độ tôi phải hỏi có khi nào đi chung với thằng con 23 tuổi người ta hỏi thằng con: "Bộ bạn gái mày đó hả ?"; còn Nguyễn thị Huệ vẫn hiền và ít nói như ngày cùng nhau đi học thêm Toán Lý Hóa chuẩn bị thi Tú Tài chỉ khác là mái tóc cắt bum bê xưa kia nay được uốn quăn trông ra dáng bà chủ tiệm lắm. Có mặt hôm đó trong phòng chỉ có Vân Anh là khác xưa nhiều, người phát tướng phát tài đúng là dân Mỹ bơ sữa hamburger đầy đủ có khác! Lúc đó đã mười giờ nhưng mọi người còn nói chờ Lâm Mỹ Hồng đến để cùng nhau đi ăn sáng (?!?!). Trời đất! mười giờ còn chưa ăn sáng vậy chừng nào thì ăn trưa???  Nhưng thôi nhập gia thì tùy tục vậy. Mãi gần mười giờ rưỡi mới thấy một chiếc xe bự chảng chạy vào sân và đậu ngay trước cửa phòng ngủ, nhưng lạ một điều là xe chạy mà hổng thấy người lái (ở Mỹ có nhiều cái lạ lắm), sau đó cửa xe mở ra mới thấy chị Mỹ Hồng nhà mình xuất hiện: lại thêm một cô bé học trò lớp 12 nữa. Tui thiệt nghĩ hổng ra mấy đức ông chồng của mấy bà bạn tui nuôi vợ kiểu gì mà hổng thấy lớn, hơn ba mươi năm gặp lại năm người thì đã có hai người vẫn còn là con nít rồi, con nít không chỉ ở hình dáng bề ngoài mà ngay cả tính tình cũng vậy, gặp nhau là mầy tao mi tớ đốp qua chát lại y chang thuở còn mặc jupe xanh rượt chạy khắp sân trường. Nhìn tới nhìn lui, nhìn xuôi nhìn ngược tui không thể nào tưởng tượng được đây là hai bà Mẹ của bốn đứa con ngoài 20 tuổi.

Giây phút xã giao ào ào rồi cũng trôi qua, mọi người hối thúc nhau đi "ăn sáng" vì gần mười một giờ rồi. Tiệm ăn sáng được hai thổ địa Mỹ Hồng và Vân Anh quyết định. Sau khi "tận lực đánh nhau" với những tô hủ tiếu, mì, bún (loại nhỏ đó nghen) với kết quả là hai người Mỹ thắng còn năm tên ngoại quốc đều phất cờ trắng; chúng tôi kéo nhau đại càn quét khu Phước Lộc Thọ tại trung tâm Little Saigon. Hôm nay mới thật sự  nhìn rõ sự sầm uất, giàu có và phồn thịnh của người Việt tị nạn tại đây qua các cửa hàng quần áo san sát nhau đầy nghẹt các kiểu y phục đẹp, những tiệm bán băng nhạc, phim ảnh, các cửa hàng bán vải thêu và áo dài may sẵn đủ kiểu đủ loại nhìn vào muốn choáng ngợp, những tiệm nữ trang lộng lẫy trưng bày  đủ loại đủ kiểu nữ trang bằng vàng bạc cẩm thạch đến kim cương rất là hấp dẫn, đi ngang dù không muốn mua vẫn muốn ngắm nghía (nhưng coi chừng nghía lâu quá thế nào cũng hao tài), các cửa tiệm bán vật dụng trang trí trong nhà từ những cái phong linh nhỏ xíu, những tranh ảnh đến các hòn non bộ đủ kiểu đủ cở giá rẽ vô cùng – tôi mê man với các hòn non bộ này nhưng tiếc là nặng quá không thể mang về Âu Châu được,  những siêu thị bán thực phẩm và hàng gia dụng to lớn quy mô không thua gì những siêu thị lớn của Âu Châu. Khi nói chuyện với các bạn bè định cư tại Mỹ nói chung và tại quận Cam này nói riêng hầu như người nào cũng rất hảnh diện về sự thành công của cộng đồng. Hãnh diện cũng phải thôi: 30 năm từ hai bàn tay trắng, với một ngôn ngữ xa lạ mà người Việt tị nạn đã tạo được một cơ ngơi vĩ đại như vậy. Nhìn thấy sự giàu có này mới hiểu tại sao nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội hiện nay thèm thuồng rỏ dãi và luôn tìm đủ mọi cách để len lỏi vào trong cộng đồng!

Sau một buổi dạo loanh quanh trong và ngoài khu Phước Lộc Thọ, chúng tôi tìm chỗ cho đôi chân được nghỉ giải lao và chờ Thúy Hằng đến nhập bọn đồng thời "đuổi" Vân Anh về đi làm, nếu không cô nàng ham vui quên luôn cái hẹn với khách hàng. Tại đây chúng tôi gặp được Cô Nga và Thầy Phước đi đặt thức ăn cho ngày họp mặt hôm sau ở nhà Gia Vinh. Mỗi đứa chúng tôi phải tự giới thiệu vì Thầy Cô không thể nào nhớ hết được học trò, Thầy trò ngồi nói chuyện một lát thì Thầy Cô phải đi lo công chuyện mọi người hẹn nhau hôm sau và chúng tôi tiếp tục "khám điền thổ" dài dài.

Đến tối mọi người bàn nhau mua thức ăn về phòng cùng ăn chung cho thoải mái, vì ở tiệm thì không thể vừa ăn vừa la vừa giành ăn hay suốt đũa của nhau được, ngoài ra Mỹ Hồng còn phải đặt thức ăn cho buổi họp mặt nữa.

Vừa trở về nhà nghỉ thì thấy Vân Anh lò dò trở lại mang theo một ổ bánh gạ con gái làm dùm để Mẹ mang đến cho bạn của Mẹ ăn; tiếp theo là Phan Thúy Mai đi làm về tạt vào chơi luôn: Thúy Mai vốn đẹp gái từ thời còn đi học, và thời gian hình như bị bất lực trước vẻ đẹp này nên dù đã lên chức bà nội rồi vẫn còn trẻ đẹp mịn màng, nói năng nhỏ nhẹ rất ư là dễ thương. Người bị triệu đến trình diện "Nếu mày hổng tới thì từ rày về sau đừng dòm mặt tụi tao"  là Tuyết Hoa. Chỉ có chị nàng này là đầu óc bê bối nhất, ngoài những người ở Cali và dì Phước (vì cùng thuộc nhóm ngũ long công chúa của Thầy Long ở thư viện) còn ra Tuyết Hoa không nhận diện được ai hết, chỉ người nào cũng ậm ừ mấy phút mới e dè nói thử nho nhỏ nếu trúng thì nói lớn còn không thì cứ cười trừ. Tuyết Hoa vẫn trắng trẻo tròn trịa, thoạt nhìn có lẽ chúng tôi cũng sẽ nhận không ra nhưng khi cô nàng cười y chang như ngày xưa. Trong căn phòng rộng chỉ khoảng 15 mét vuông mà chứa đến mười người mà ai nấy đều mở hết volume âm thanh của mình vậy mà không biết các phòng bên cạnh hoặc không có ai ở hoặc người trong các phòng này đều bị lãng tai hay sao mà vẫn không thấy ai phàn nàn gì cả. Thấy trời gần tối tôi nhờ Tuyết Hoa chở đến nhà Gia Vinh để lấy vali hành lý còn gởi tại đó, tại đây gặp được cặp Hạnh và Phong từ Texas vừa đến được Vinh rước về: Cả hai vợ chồng Hạnh Phong thi đua nhau phát tướng không ai chịu nhường ai cả, cho nên nếu không được chị Tâm cho biết trước là Vinh đang chở Hạnh và Phong về thì tôi không thể nào nhận được ra Phong, còn Hạnh vốn đã có biệt danh Hạnh ù từ thuở còn đi học do đó dù có mập thêm cũng không che được đồng điếu duyên ở khóe miệng.

Hôm sau chúng tôi hẹn nhau đi chu du tận khu China town ở Los Angeles trước khi về họp mặt vào buổi tối. Nếu quận Cam là tiểu Saigon thì Los Angeles chính là tiểu Chợ Lớn, vì khu China town ở đây giống y chang chợ Bình Tây, cũng có khu nhà lồng chợ nằm phía trong và bao bên ngoài các cửa hàng bán đủ thứ quần áo, túi xách, valise, giày dép. Thương gia ở đây đa số là người Việt gốc Hoa nên họ nói được cả hai thứ tiếng Việt và Quảng Đông, tại đây ngoài một số quần áo chúng tôi còn tậu thêm mỗi người một cái valise lớn, bởi lỡ tay mua sắm quá nhiều. Mỹ Hồng cứ hối như giặc vì sợ trễ giờ. Cuối cùng chúng tôi cũng đành rời tiểu Chợ Lớn mà lòng vẫn còn nhiều luyến tiếc, trên đường về lại phải ghé qua nhà cho Mỹ Hồng thay đổi y phục. Vừa ra sau vườn nhà Mỹ Hồng chợt bốn cặp mắt – Tâm, Huệ, Hạnh, Lan (em tôi) sáng rực lên vì ở góc sân là mấy cây ổi trái sai oằn nhưng chủ nhà phung phí quá bỏ lăn bỏ lóc không chịu "săn sóc", mọi người súm lại ra sức tỉa bớt trái dùm cho cây khỏi phải gảy cành, trong khi chúng tôi đang say sưa với mấy cây ổi, tôi chợt nhìn ra sau lưng thấy một người đàn ông đứng nơi sân cứ nhìn chúng tôi chăm chăm.

- "Ê, Phước ông nào đứng dòm tụi mình kìa!“

- "Ông nào dòm cũng kệ chả!" vừa trả lời Phước vừa quay lại coi là ai

- "Ủủủa! chào anh Quân (hì hì) anh mạnh giỏi. - chồng con Hồng đó" (nhỏ giọng).

Mọi người giựt mình ngưng tay quay ra chào chủ nhà, đồng thời rất ư là lịch sự khen cây ổi trái sai quá, sao mà để vậy hổng hái? v.v. và v.v.

- "Mấy chị cứ hái tự nhiên. Trái nhiều quá ở nhà ăn đâu hết."

Đèn xanh vừa bật là "mấy chị" tự nhiên lắm, quay lại bẻ tiếp và thậm chí tự nhiên đến độ kêu luôn chủ nhà đến hái dùm mấy trái trên cao, rốt cục chủ nhà  bị “mấy chị“ sai túi bụi:

- "Trái này nè! Đây nữa nè anh Quân! Trên kia trái nữa! Đàng này nữa! …."

Tôi thì không hảo món ổi lắm nên không hứng thú bèn đi vòng sân coi còn có thứ trái cây nào nữa hay không.

- "Ô! Cây thanh long! có một trái thanh long bự chảng".

Nghe tới hai chữ "Thanh Long" là Phước và em tôi chạy ra.

- "Đâu? Đâu? "

Và cuối cùng trái thanh long cũng được gởi nằm êm ái trong túi xách của Hạnh cùng với mấy túi ổi trên đường về lại quận Cam.

Và giờ khắc quan trọng nhất mà chúng tôi đã chờ đợi từ năm năm nay cũng đến. Lúc chúng tôi đến nhà Phạm Gia Vinh cũng đã hơi trễ. Mọi người có mặt khá đông, bước vào vừa đến chào Thầy Phước thì Thầy kéo tay hỏi nhỏ:

-"Mới đến hả? "

-"Dạ! "

-"Ra đây Thầy nói cái nầy nghe! "

-"Dạ! "

Chúng tôi đi theo Thầy ra phòng khách, Thầy ngồi trên salon còn chúng tôi thì quỳ bên cạnh trong tư thế lắng nghe Thầy nói cái gì.

-"Tên gì?" Thầy chỉ tôi hỏi

-"Dạ, NTKD. "

-"Lập gia đình chưa?"

-"Dạ chưa."

Thầy lấy ra quyển sách Tiếng Việt Đa Dạng của Thầy ghi lời thân tặng tên tôi.

Kế đến Mỹ Hồng, rồi Tâm, rồi Phước, rồi Huệ, rồi Vân Anh … người nào có gia đình thì được hỏi tiếp tên của anh xã  (hoặc em xã). Chúng tôi quỳ xung quanh Thầy và kể từ lúc đó tự động bất cứ bạn nào vừa vào nhà đến chào Thầy thì một người trong chúng tôi ra lệnh:

-"Quỳ xuống! Chờ đó! Tên gì khai ra! "

Lần lượt mỗi người chúng tôi có mặt ngày hôm đó đều nhận được một quyển sách Thầy tặng cho. Mỹ Hồng nhanh nhẩu méo mó nghề nghiệp Thủ Quỹ của mình đưa ra ý kiến hoàn lại phần tài chánh in quyển sách cho Thầy, vì Thầy Cô bây giờ lớn tuổi về hưu rồi không nên hao tốn như vậy, nhưng Thầy xua tay từ chối. Thầy nói:

- "Mấy em là học trò của Thầy nên Thầy đem quyển sách này tặng làm quà chứ không phải Thầy phát hành, còn như mấy em muốn đóng góp thì tùy ý nhưng số tiền đó đưa vào Quỹ Tương Trợ KMTĐ đi."

Sau màn nhận sách, chúng tôi cùng nhau vào bên trong để gặp bạn bè. Người mà mới thoáng nhìn từ xa tôi đã nhận ra được là Nguyễn Hữu Xương vì Xương không khác ngày xưa một tí xíu nào.

-"Xương Xí Quách y chang hồi đó hổng khác gì hết!", dì Phước nói.

Đi đến gần Hữu Xương, Phước lần lượt chỉ mình cùng mọi người và hỏi: "Biết ai đây không?", Xương nhận ra được Phước (đương nhiên rồi vì bạn cùng lớp Lục 3 đến Tứ 3 mà), Mỹ Hồng, Tâm ống điếu, Huệ (sau một lúc ngần ngừ), đến tôi thì anh chàng cười cười không nói tôi biết ngay là anh bạn không nhớ rồi (nhớ mới là lạ đó!). Vào tiếp bên trong thì gặp được nhóm bạn trai Đỗ Nguyên Đản, Nguyễn Quốc Bảo và Nguyễn Phong đang ngồi tán  chuyện với nhau. Gặp nhau chào hỏi: Nguyên Đản không thay đổi mấy (vì tôi còn có thể nhận diện được) – Quốc Bảo thay đổi nhiều, nhớ ngày xưa Bảo ốm nhom như con còng gió tóc húi cua, nay thì có da có thịt hơn với mái tóc bồng bềnh rất ư là nghệ sĩ và trông có vẻ đẹp trai hơn thời đi học – Nguyễn Phong thì gặp từ đêm trước rồi – Thái An sau khi làm bổn phận con hiếu dâu hiền cũng dẫn anh Chân đến chơi với bạn bè.

Thầy Quảng và Cô Sơn đến, khi học trò đến chào Thầy nói ngay là Thầy không nhớ hết được mọi người. Riêng Cô Sơn thì khá thân thiết với tôi nên Cô nhận được ra tôi ngay, đương nhiên là theo thời gian Cô đã lớn tuổi nhưng nét duyên ngày nào vẫn không thay, cách nói chuyện cũng như cách cười mỉm chi của Cô y hệt ngày ở Kiểu Mẫu. Nhìn Thầy Cô có vẻ rất hạnh phúc, tay luôn trong tay. Xin chúc mừng Thầy Cô vào những ngày cuối đời đã thực hiện được giấc mơ thời son trẻ.

Mọi người bắt đầu nhập tiệc, riêng nam gia chủ Gia Vinh thì lăng xăng chạy tới chạy lui chỉ dọn thức ăn, mời mọi người vào tiệc, chụp hình, chào hỏi, v.v. còn nữ gia chủ Tố Tâm trấn thủ ở bếp để khi ai có cần gì chạy xuống thì có đưa ngay – Restaurant Tâm Vinh phục vụ khách tận tình thiệt, hèn chi tôi nghe nói mỗi lần họp mặt địa điểm này vẫn luôn được ưu tiên lựa chọn.

Trong khi ngồi ăn uống với nhau tôi chợt thấy một cô ăn mặc như tài tử Hongkong, dáng ngồi rất điệu đàng, tướng ăn thì nhỏ nhẹ lại ngồi kế cạnh và trò chuyện với Huệ, nhìn lại lần nữa: trời ơi ! Bế Tí Em – à quên Bế Tú Anh! Cô bạn Tú Anh nhỏng nhẽo ngày nào nay đẹp ra suýt nữa tôi nhìn không ra. Gần đó có Nguyễn thị Nhung cũng không khác xưa mấy. Đang nói chuyện thì nghe có tiếng ồn ào nơi hành lang, lần bước ra xem chuyện gì … Ồ! Trời đất thánh thần thiên địa ông bà cha mẹ ơi… (có bao nhiêu tiếng để chỉ sự ngạc nhiên cứ đem ra xài): THẢO TIÊU! (muốn hiểu đây là cô bạn Tiêu Phương Thảo cũng được mà muốn hiểu là Thảo tròn như HỘT TIÊU cũng được); Phương Thảo thuở còn đi học vốn không cao cho lắm, nay bề ngang được phát triển nhưng bề cao thì làm biếng chỉ đứng ỳ ra đó nên hột tiêu Việt ngày nào nay trở thành hột tiêu Mỹ. Thảo nghiêng qua nghiêng lại nhìn chúng tôi và hỏi:

- "Các bạn giữ thế nào để được thân hình thon thả đẹp thế! "

- "Đây là tiêu chuẩn Photomodel mà! "

- "Nhìn các bạn thế này, nhìn lại mình … ôi! chậc – chậc –" (dáng điệu thiểu não)

- "Này! mày đừng nói vậy chứ, phải nói là chúng mình giàu có phì nhiêu còn chúng nó ốm đói!" Vân Anh gạt ngang.

Cả bọn đang ngất ngưởng chuyện mập ốm thì Vũ văn Diễn bước đến tay ôm một thùng quà khá lớn, miệng nói:

- "Quà này tặng riêng khóa 1"

- "Úi giời! quà gì thế ! Nhưng sao lại đưa cho dì Phước đầu tiên vậy?" Thảo nhanh miệng hỏi liền.

- "Nè! Sao mà chậm hiểu vậy. Mình đang được hưởng ké quà thì cứ nhận đi. Đừng thắc mắc nữa. "

- "À ra thế! Đây là tình cho không biếu không đấy nhỉ ! "

- "Đúng vậy! "

Nhưng sau đó thì món "tình cho không biếu không" từ tay dì Phước bị giựt đưa sang tay mục sư Thảo và món quà trở thành "Tình là tình nhiều khi không mà có", nhưng khổ nỗi tình ở trong tay mục sư thì "Tình bên bà dù là có cũng như không".

Phải công nhận từ khi Phương Thảo bước vào nhà, chúng tôi như cá gặp nước vì có thêm một nhân vật góp phần quậy bầu không khí khiến cả nhà ồn ào không ngừng. Nhóm các chị khóa 1 ở đâu thì om sòm ở đó, trong khi các em khóa dưới thì cứ từ từ thủ thỉ tâm tình với nhau rất là êm ái.

Có lẽ vì chúng tôi "quậy" quá nên sau đó có yêu cầu tập trung vào phòng sinh hoạt để cùng họp mặt chung.

Rồi Thầy Quân đến.

Tại đây một lần nữa mỗi người tự giới thiệu tên mình cho Thầy Cô và bạn bè nhớ.

Chương trình sinh hoạt được mở đầu bằng một màn kể chuyện tiếu lâm của Thầy Phước: câu chuyện "cái ná thun" mà Thầy kể làm chúng tôi cười bò lăn, cười một phần vì nội dung câu chuyện nhưng phần lớn chính là cách diễn tả của Thầy, giễu không thể tưởng. Kế tiếp Thân Trọng Quang cũng góp một câu chuyện vui – theo nhận xét riêng của tôi thì hình như Thầy Phước và Thân Trọng Quang là hai người chuyên môn góp vui cho các buổi họp mặt, vì vừa bắt đầu chương trình là mọi người chỉa ngay Thầy và sau đó là Quang chứ không thấy đề nghị ai hết – sau màn kể chuyện vui mọi người yêu cầu Phương Thảo ngâm vài bài thơ nhưng cô nàng lắc đầu nguây nguẩy từ chối với lý do không khí đang vui vẻ mà ngâm thơ thì áo não chết. Nhưng mọi người cứ nằng nặc đòi Thảo phải trình bày một tiết mục vì nảy giờ Thảo là đầu têu cho các trận cười rung rinh mái nhà của xóm các chị. Để cứu bồ, anh Tuấn (anh xã của Thảo) xin đứng ra kể góp vui vài câu chuyện, nghe anh Tuấn kể chuyện tôi nghĩ may mắn cho ông Nguyễn Ngọc Ngạn là anh Tuấn làm mục sư nếu không ông Ngạn sẽ có một đối thủ đáng gờm và chưa chắc ông có thể một mình tung hoành trên sân khấu Thúy Nga Paris by Night cho đến giờ. Anh kể chuyện vui mọi người cười lăn ra mà mặt anh thì vẫn tỉnh như không. Tiếp theo là sự góp phần văn nghệ của Cô Thủy, thú thật khi nghe giới thiệu Cô Thủy tôi mới giật mình vì nhìn cô rất trẻ, khi mới vào thấy Cô và các bạn đàn em ngồi cùng bàn nhưng tôi không biết mặt Cô vì hình như Cô vào dạy ở Kiểu Mẫu là lúc chúng tôi đã ra trường hay sắp rời trường nên tôi hoàn toàn không biết. Tôi tưởng là các bạn khóa đàn em nên chỉ gật đầu chào chung chung mà thôi.       

Các bạn khóa đàn em mà tôi còn nhận ra được là: Xuân Hồng (từ San Jose ngồi xe đò xuống), Trang Thủy Hồng, Băng Khanh, Nguyễn thị Đường, Nguyễn Kế Hà Liên, Lê Nguyên Mỹ Tiên, Thân Trọng Quang, riêng Minh Ngọc (k.9) em của Thái An thì tôi chưa gặp bao giờ nhưng nhờ gương mặt giống Minh Tâm y hệt nên nhìn là tôi biết ngay.

Tôi còn được làm quen với Nguyễn Kế Khoa nhờ có cái miệng khá dẻo nên mới rước được Bích Nga đem về. Phạm Tường Vân (k.3) cũng có mặt đứng kế bên tôi khá lâu nhưng tôi không nhận ra được, vì Tường Vân thay đổi hơi nhiều, tôi nhớ trước kia Vân để tóc dài nay cắt tóc ngắn và rất ít nói (hay là tại chưa trúng đài không biết). Phan Phan cũng tự đến giới thiệu. Và khá nhiều bạn nữa nhưng thú thật nhiều quá tôi không thể nào nhớ hết và cũng không đủ thời giờ để đi làm quen hết.

Một trong các đề tài được đưa ra để cười đương nhiên là không thiếu đề tài về "đôi trẻ" Quảng-Sơn rồi.

Sau khi mọi người cười đã rồi, Thầy Phước nói:

- "Bây giờ rảnh chưa, lại đây Thầy kể chuyện này cho nghe nè!"

Thầy ngồi trên ghế, chúng tôi kẻ ngồi salon, người đứng, có đứa ngồi bẹp hẳn xuống sàn nhà (lót thảm) vây chung quanh. Bấy giờ, Thầy mới từ tốn kể lại những kinh nghiệm về đời sống trong gia đình, cách cư xử giữa cha mẹ và con cháu thời nay sao cho không có sự cách biệt giữa các thế hệ mà đám trẻ vẫn giữ được nếp sống Á Đông. Nhìn tư thế Thầy ngồi, cách Thầy nói chuyện tuy gọi là tâm tình nhưng tôi cảm thấy hình như Thầy đang cố vận dụng những thời khắc gặp gỡ hiếm hoi này để nhắn nhủ lại cho chúng tôi những ước muốn giữ gìn truyền thống dân tộc của các bậc tiền bối nói chung và của Thầy nói riêng qua sự kể lại kinh nghiệm sống của Thầy trong gia đình với con với cháu. Không biết các bạn có mặt ngày hôm đó cảm thấy như thế nào nhưng riêng tôi thật là xúc động với hình ảnh một ông giáo tóc bạc phơ ngồi dạy cho đám học trò đầu không còn xanh nữa, không phải những kiến thức của học đường mà là tri thức của cuộc đời, một sự truyền thừa đang được ân cần rót từ người Thầy đến đám đệ tử. Một hình ảnh thật đẹp và thật đáng trân trọng. Cám ơn Thầy, dù trong hoàn cảnh nào và ở đâu Thầy cũng thể hiện tấm lòng tận tâm của một "vị Thầy".

Buổi họp mặt kéo dài đến nửa đêm thì một số bạn ở xa hoặc có công chuyện phải làm cho ngày mai bắt đầu cáo từ. Quý Thầy Cô vì lý do sức khỏe cũng muốn ra về sớm (12 giờ đêm) còn chúng tôi vẫn chưa muốn chia tay nên cứ ở lại làm tiếp màn hai – vì thức ăn nhiều quá (người Việt Nam có cặp mắt luôn lớn hơn cái bụng) và chuyện nói vẫn chưa hết. Tin tức sinh hoạt hiện tại của bạn bè được kể lại cho nhau nghe để cùng mừng cho các bạn có cuộc sống yên ấm cũng như tiếc cho những bạn gặp nhiều rủi ro. Sau đó các đấng mày râu bắt đầu ôn lại chuyện xưa để kể tội đám nữ sinh chúng tôi – ai bảo đàn ông không thù dai là lầm to – đàn ông khóa 1 Kiểu Mẫu Thủ Đức là thù dai hạng nhất, những chuyện từ 40 năm trước vẫn còn ghim trong lòng và bây giờ xổ ra kể tội "mấy bà":

- nào là: "Mấy bà làm ở thư viện hồi xưa hách dịch lắm, vô thư viện mượn sách khi trả lại mấy bả kiểm soát từng ly từng tí, hoạch họe lung tung, khó dễ đủ điều"

- nào là: "Còn bà này thì hồi xưa tôi nói ra câu gì cứ bị bả chận câu đó, biểu là - Bắc kỳ ba xạo tin hổng nổi – "    

- rồi thì là: "Mấy bà hồi đó đâu thèm dòm tụi tui, giống như bà Xuân Minh đó mình để ý bả từ lâu nhưng chưa kịp nói gì thì bả quăng vô mặt mình cái thiệp cưới làm mình câm luôn, hết nói được"

v.v. và v.v….

Sau màn hài tội xong có vẻ như đã trút được những uất ức chứa chất hàng mấy chục năm rồi, nên các ông bắt đầu kể lại những kỷ niệm vui, và một trong những kỷ niệm đó là cuộc so tài giữa Hạnh ù cùng hai chàng trẻ tuổi hào hoa mạnh khỏe Phong & Bảo. Kết quả: Phong phất cờ trắng đầu hàng khi chưa xong hiệp nhất; còn Bảo không những thua xiểng niểng cháy túi mà ngày hôm sau còn phải vô nằm nhà thương nữa. Cuộc tranh tài gì mà ghê gớm vậy? Trả lời: tài ĂN NHIỀU – ai ăn nhiều thì thắng, kẻ thua phải trả tiền cho bữa ăn đó.

Chúng tôi mải lo trò chuyện mà không nhớ gì đến giờ giấc, đến khi có người tới nhắc nhỏ thôi trễ quá rồi mình cũng nên thu dẹp các thứ để về, vì thấy chị Tâm chịu không thấu bị nhiễm lạnh nhưng vẫn ráng cầm cự tiếp bạn bè của chồng để chồng có thể:

Ra đường nở mặt nở mày,

Về nhà vỡ mặt vỡ mày tính sau.

Nhìn lại đồng hồ đã hơn hai giờ sáng rồi. Mọi người cùng nhau dọn dẹp sơ các thứ rồi chia tay hẹn nhau 5 năm sau sẽ mượn tiếp tổ ấm Gia Vinh - Tố Tâm để họp mặt nữa – nhưng một số bạn bắt đầu trả giá 3 năm thôi vì cho rằng 5 năm lâu quá .

Qua ngày hôm sau tôi có cái hẹn với đồng nghiệp và học trò cũ. Nghĩ lại cũng tức cười: mới hôm trước mình còn là học trò, ngủ một đêm sáng dậy đã là cô giáo của người ta. Tôi được đám học trò đưa lên khu Hollywood để đếm ngôi sao của các minh tinh tài tử  và rờ dấu giày dấu tay của họ in trên xi măng. Còn Phước, Tâm, Huệ, Mỹ Hồng và Thúy Hằng cùng đưa nhau ra biển quấn chiếu.

Ngày cuối cùng ở quận Cam chúng tôi được Thầy Quảng và Cô Sơn mời đi ăn nhà hàng đồ biển, sau đó còn được ăn chè trôi nước do Cô Sơn nấu ngon tuyệt vời. Tại nhà hàng chúng tôi có gặp được Ông Phát, mọi người kể công là khi nào sửa nhà cho Gia Vinh, Ông Phát phải nhớ ơn “các chị”, vì đêm trước nhờ các chị mà tường và mái nhà đều nứt hết rồi, mai mốt chỉ cần đẩy nhẹ cũng đủ sập khỏi cần ra sức đập cực khổ.

Giả từ quận Cam chúng tôi ngồi xe đò lên hướng Bắc Cali để đến San Jose. Tại đây chúng tôi được vợ chồng Xuân Hồng ra đón và mời về nhà ở, nhưng mọi người e ngại cứ từ chối, làm cho Mike (anh xã của Xuân Hồng) cứ thắc mắc why?  Tại sao từ chối? Tuy nhiên tìm phòng ngủ mà không đặt chỗ trước quả thật không dễ, chúng tôi kiếm tất cả bốn cái nhưng cái mà mình OK thì không còn chỗ trống, nơi còn phòng trống thì hoặc quá dơ hoặc bất tiện hoặc nhìn có vẻ không an toàn lắm… cuối cùng thì Nguyễn Hải Thành bảo bằng mọi giá phải đến nhà của Thành ở vì nhà rất rộng mà chỉ có hai vợ chồng nên lạnh lẽo lắm, các chị tới ở cho vui. Chúng tôi gặp vợ chồng Hải Thành - Hảo tại nhà của Xuân Hồng. Hai người trẻ đến độ vừa gặp nhau chị Tâm ống điếu của chúng mình gọi ngay Hải Thành là em và xưng chị tỉnh bơ:

- "Chị tên Tâm khóa 1 còn em tên gì vậy? "

Mọi người che miệng cười khúc khích.

Tối đầu tiên ở nhà Hải Thành có Huỳnh Ngọc Hồng nghe tin bạn bè từ xa đến nên ghé sang thăm, Ngọc Hồng có vẻ ít nói và cũng bị cho xuống chức "em".

Chị Hảo – em xã của Hải Thành – vừa nhỏ con, nhìn rất trẻ, tánh tình cũng rất thoải mái và thích nói chuyện nên mỗi đêm chúng tôi đều cùng nhau trò chuyện đủ các thứ trên đời, không đêm nào chúng tôi đi ngủ trước 1 giờ khuya, làm anh chàng Hải Thành ganh tị cứ đi tới đi lui ngoài hành lang càu nhàu: "Không hiểu tại sao các bà cứ dúm díu vào mí nhau thế nhở " (phát âm đúng giọng Hà Nội 36 phố phường nghen). Và dù đã mấy ngày ở cùng nhau mà khi nói chuyện Tâm vẫn gọi Hảo là em xưng chị ngon lành thoải mái.

Chúng tôi ở tại San Jose ba ngày:

* Ngày thứ nhất: Xuân Hồng chở đi dạo chợ cho biết khu buôn bán của người Việt ở bắc Cali. San Jose không sầm uất to lớn như ở quận Cam. Có một trung tâm thương mại chánh rất  mới, đẹp và sạch. Còn các cửa hàng hay tiệm thì ở rải rác xen lẫn với nhà ở chứ không tập trung như ở nam Cali. Trưa hôm đó chúng tôi hẹn nhau ăn trưa tại trung tâm thương mại này cùng Hải Thành, Vinh Hiển và Văn Hoàng (tức Jambon tức Tám Tàng): Vinh Hiển dáng dấp và nét mặt không đổi nhiều chỉ có mái tóc đã nhuộm màu thời gian hơi nhiều, Văn Hoàng vẫn tửng tửng như ngày nào và rất nhiệt tình với bạn bè nhưng thấy mặt dì Phước là cay cú chuyện năm xửa năm xưa. Ngồi nói chuyện với em tôi suốt buổi trưa chỉ nghe Hoàng tố cáo mấy bà làm ở thư viện ác lắm:

- "Em biết hôn, cái bà Phước này hồi xưa ác lắm! Buổi trưa tụi này trốn không ngủ, mấy bả chuyên môn đi mét mấy Thầy , làm tụi nầy bị bắt quỳ gối trước mặt các em gái, quê muốn độn thổ mà độn đâu được. Ác hết biết! " vừa nói anh chàng vừa nguýt đến độ con mắt chỉ còn nửa tròng đen. – Ghê thiệt, cay cú thiệt! 

Tuy hậm hực chuyện ngày xưa còn bé như vậy, nhưng ba chàng vẫn ga lăng với tụi tôi lắm. Tụi tôi nhắc lại ý định thăm vườn hồng nhà Tám Tàng – OK !

Do đó chiều đến chúng tôi trực chỉ nhà anh Tám, xe vO 15 ngừng mọi người ồ lên kinh ngạc vì cây hồng trong vườn chỉ thấy trái vàng hực mà không thấy lá.

Theo sự chỉ dẫn của chủ nhà qua điện thoại (vì cả hai gia chủ đều bận đi làm) chúng tôi tự động mở cửa vườn vào nhà để bắt đầu làm việc. Vừa đến gốc cây thì …. thoắt một cái bốn trong số sáu người chúng tôi lập tức úm ba la biến thành con cháu Tề Thiên tòng teng vắt vẻo trên cây và nóc nhà. Hai người còn lại phải đứng dưới đất để chuyền chiến lợi phẩm từ nóc nhà đưa xuống. Bao nhiêu thùng carton, giỏ rác, giỏ đựng lá cây trong vườn, sô đựng nước, v.v. tóm lại bất cứ cái gì trong vườn mà có thể "đựng" được đều bị trưng dụng hết ráo. Bốn con khỉ trên cây như bị thôi miên bởi những nhánh hồng trĩu trái, nên mặc tình cho hai người bên dưới la làng la xóm:

- "Thôi, nhiều rồi! "

Im re.

- "Thôi! nhiều lắm rồi. Khiêng hổng nổi đâu! "

Im re.

- "Hết đồ đựng rồi! "  

Im re.

- "THÔI ! --- HẾT ĐỒ ĐỰNG RỒI ! --- XUỐNG ĐI ! ---"

Vẫn im re.

- "Xuống đi mấy chị ơi! Chị Liên về kìa! "

Lúc đó từ trên cây nhìn xuống dưới đất, các thùng, các sô được xếp dài dài giống như vựa bán trái cây vậy. Mọi người mới chịu hạ thổ.

Trong vòng có mấy tiếng đồng hồ chúng tôi thu hoạch được gần 100 kg hồng, nhưng nhìn lên cây vẫn không thấy suy suyển chút nào. Đó chỉ mới một cây thôi, ở vườn có tất cả hình như bốn cây như vậy.

Xuống đất nhìn lại lần nữa "vựa" hồng không ai nhịn cười cho được. Mọi người hỉ hả khoái trá lắm. Cảm giác leo lên cây, thò tay ra là hái được những trái hồng trơn láng bóng mịn không cần phải lựa chọn gì hết, nó đã làm sao á.

Chúng tôi cũng tỏ ra biết điều lắm (!?!?), sau khi hái trái xong thì quét dọn vườn rất ư là sạch sẽ, đàng hoàng rồi mới vào nhà chào Chị Liên (em xã của Tám Tàng).

Chúng tôi chuyện trò với chị trong khi chờ Tám Tàng đi làm về, để cùng nhau đi ăn tối. Khi chủ nhà về đến chúng tôi kể chuyện hái hồng, anh chàng nói giọng tỉnh rụi:

- "Hái được bao nhiêu thì hái, bề gì mai mốt tui cũng phải hái để sấy," vừa nói vừa chỉ cái máy sấy.

Nhưng khi ra sân nhìn thấy hàng sô được xếp dài ngoài vườn, chỉ một tiếng "Trời!" gọn lỏn bật lên rồi hết nói luôn.

Lần lượt từng thùng, từng sô, từng giỏ đầy nhóc hồng được khệ nệ khiêng ra hai chiếc xe hơi. Cùng nhau ăn tối xong, các thùng hồng lại được chuyển từ xe của Tám Tàng sang xe của Hải Thành. (vì các chị ngủ đêm ở nhà Hải Thành). Anh chàng Hải Thành rất ư là ga lăng đúng mốt Mỹ:

- "Các chị cứ đứng đấy! để chúng tôi khuân! Không sao! Chỉ là chuyện nhỏ mà! "

Và cửa xe của Tám Tàng được mở ra.

- "Oh, my God !!! "

Hai chàng hì hục khiêng mớ "chuyện nhỏ" này vừa khiêng vừa hổn hển nói, hổng hiểu hồi nảy làm sao mà mấy bả khiêng bỏ được lên xe hay thiệt !

* Ngày thứ nhì: Chúng tôi làm một tour du lịch ngắn thăm các vùng thiên nhiên ở Bắc Cali. Tối về cũng cùng nhau đi ăn tối.

* Ngày thứ ba: Mike chở chúng tôi đi thăm Cựu Kim Sơn – có thể nói người dạy chồng hay nhất KMTD chắc không ai qua được Xuân Hồng:

Dạy con từ thuở còn thơ,

Dạy chồng từ thuở lơ mơ chưa về (nhà).

Do được dạy dỗ kỹ càng và đúng sách vở như vậy nên chàng rể này ngoan ngoãn dễ thương đến độ xin nghỉ phép hẳn một ngày để đưa các Chị đi chơi. Mike quả là một hướng dẫn viên du lịch thuộc loại khá chuyên nghiệp: chúng tôi được đưa đi xem Golden Gate từ một vị trí nhìn rất rõ toàn bộ chiếc cầu nổi tiếng này và thành phố Cựu Kim Sơn, những pháo đài từ thời đệ nhị thế chiến được dùng để canh gác bờ biển, nhìn ngọn hải đăng xưa nhất tại đây, đoạn đường zigzag nổi tiếng (nguy hiểm và đẹp) mà hầu như ai muốn đi thăm thành phố này đều được giới thiệu không nên bỏ qua, những chiếc xe điện cổ xưa đặc biệt của thành phố (giống như xe điện ở Hà Nội nhưng sạch và đẹp hơn), và cuối cùng là khu phố Tàu (China town) lâu đời nhất tại Mỹ, đa số người Hoa ở đây đến từ Quảng Châu hoặc Hương Cảng vì tất cả đều nói tiếng Quảng Đông – đi suốt buổi chiều vào các cửa hàng hầu như không nghe ai nói tiếng Quan thoại (hoặc chưa gặp) và tôi đã tự đặt tên cho khu này là "tiểu Hongkong".

Sau khi dạo khu phố Tàu (dù chưa hết) chúng tôi quay trở về San Jose để cùng nhau tham dự buổi họp mặt tại nhà Xuân Hồng vào buổi tối.

Trong buổi họp mặt VN 73; phần giáo sư thì ngoài Thầy Loạt còn có thêm Thầy Quảng và Cô Sơn từ quận Cam lên tiếp sức vì sợ một mình Thầy Loạt sẽ bị tụi học trò ăn hiếp; phần bạn bè ở khóa 1 có Hải Thành, Vinh Hiển, Ngọc Hồng, Văn Hoàng, Thái An, Phước, Tâm, Huệ, Phương Thảo và tôi – các bạn khóa khác tôi biết được có Xuân Hồng (gia chủ), Bích Nga, Kế Khoa, Đường. Đang đứng nhìn quanh xem còn ai để nhận diện nữa không thì một cô nàng dáng người mỏng dánh như cánh chuồn chuồn“ chạy đến ôm tôi và hỏi chị nhớ em là ai không? ồ! đương nhiên là nhớ Dương Ánh Tuyết với cái miệng vẫn tía lia rồi. Các bạn khóa đàn em (và KM bis) đến khá đông nhưng đành chịu lỗi vì tôi không biết hết được đành cười cười gật gật là được rồi.

Phương Thảo thiệt dở khi được dẫn đến để chào Thầy Loạt, Thảo không nhớ Thầy, khiến Thầy phải nhắc lại:

- "Lớp 12C ngày xưa học với tôi chỉ có 1 giờ một tuần nhưng tôi vẫn nhớ lớp này có 12 đứa con gái nhé …"

- "Úi giời ơi! Sao mà Thầy tài thế! "

- "...và chỉ có 2 thằng con trai... "

- "Úi giời! Vâng đúng thế ạ ! "

- "…trong đó có một thằng gà mái nữa!"

Thầy nói đến đâu cô nàng Thảo mở to cặp mắt đến đó và miệng thì cứ há hốc ra "Úi giời!"  lia lịa.

Ngoài màn chụp hình lưu niệm cũng có màn văn nghệ bỏ túi với cặp Thảo - Tuấn chỉ một bài thơ mà được trình diễn theo ba miền: ca vọng cổ miền Nam, ngâm Tao Đàn miền Bắc và hò Huế miền Trung; sau đó anh Tuấn còn hát tặng Thầy Quảng một bài hát và Hải Thành cũng nổi hứng văn nghệ đem trình làng mấy bài thơ "D".

Tại buổi họp này một số hồng thu hoạch hôm trước cũng được Hoàng mang tới chia cho mọi người "lấy thảo" – ngoài ra chúng tôi cũng nhờ Thầy Cô Quảng & Sơn mang về quận Cam một thùng chia cho các bạn ở đó. Đúng ra chúng tôi định gởi về quận Cam hai thùng nhưng vì thấy Thầy Cô lớn tuổi rồi nên ngại quá chỉ nhờ Thầy Cô mang về một thùng mà thôi.

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, buổi họp nào rồi cũng tan, chúng tôi chia tay trong tiếng cười vui gặp bạn bè và sự luyến tiếc thời gian qua nhanh quá. Ngày hôm sau chúng tôi quay trở về nhà với cái hẹn 5 (hoặc 3) năm sau.

Hôm nay ngồi co ro trong căn phòng lạnh lẽo giữa mùa Đông Âu Châu giá rét, nhớ đến những ngày nắng chói ở Cali cũng như tình cảm bạn bè ấm áp, tôi ghi lại các kỷ niệm vừa qua xin gởi đến Thầy Cô và các bạn để cùng nhau nhớ lại những ngày vui đã qua.

Hy vọng lần gặp mặt 5 (hoặc 3) năm sắp đến sẽ có mặt nhiều Thầy Cô và bạn bè hơn.

Những kỷ niệm nhỏ vụn sẽ vun bồi thành tình cảm lớn – tình cảm Kiểu Mẫu Thủ Đức !

 

[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates