Những Biệt Danh Vang Bóng Một Thời

Chắc hẳn một số lớn các em học sinh Kiểu Mẫu thường tự hỏi không biết ngày xưa khi còn ở tuổi học trò các thầy cô có từng “quậy” và phá phách như mình không? Biết đâu các thầy thời đó còn có bản lãnh hơn mình nữa. Trả lời cho câu hỏi này thật khó, vì nói chung  cả hai bên đều “tám lạng, nửa cân”. Thôi thì để các em tự rút kết luận lấy sau khi đọc qua bài dưới đâỵ của tác giả viết về biệt danh của các bạn trong lớp của mình.                                  
 
Tên đặt cho con thường do các bậc cha mẹ Việt Nam lựa chọn rất kỹ lưỡng mong sao những điều may mắn và tốt đẹp đi kèm với tên sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống tương lai của con mình. Rồi tới tuổi đi học, các bạn cùng lớp lại gán cho những tên mới (mà không cần cúng chè xôi gì hết), mục đích chỉ là nghịch ngợm cũng như thói quen sửa đổi lời của các bài ca. (Không trách người đời thường nói “Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò”).

Nhiều người được cha mẹ đặt tên rất đẹp đẽ, nhưng khi tới trường các bạn lại đặt cho các tên khác rất ngộ nghĩnh và buồn cười. Vậy các người bị đặt tên này đã phản ứng ra sao? Nếu không bằng lòng, tức giận, thì các bạn lại càng làm già chọc ghẹo mạnh hơn để trò chơi thêm phần hào hứng. Bản thân tôi bị gọi là “Râu Bể” vì có sẹo trên mặt, sau đó lại bị gán thêm tên “Hùng Tàu” và sau cùng là “Trương Phụ” (có lẽ do tôi trông giống người Tầu chăng?). Tôi rất bực mình với danh hiệu cuối cùng này vì Trương Phụ là quan Thái Thú người Tàu, nổi tiếng rất tàn ác thời đại Nhà Minh. Tôi đã phản đối nhiều lần và có lúc gây gổ đánh nhau với các bạn, nhưng họ vẫn không chịu buông tha và tiếp tục dùng các biệt hiệu này để gọi tôi. Sau này kinh nghiệm cho thấy phớt tỉnh ’’Ăng Lê’’ là thượng sách, các bạn thấy không có kết quả gì sẽ chán nản, cụt hứng và không thèm trêu chọc nữa.
Những biệt danh không ít thì nhiều nói lên phần nào đặc tính của đương sự, dựa trên vóc dáng bên ngoài, tính tình và thói quen của người đó, đôi khi dựa trên âm điệu bằng cách nói lái, nói trại tên đi. Tên các bạn trong lớp kèm theo các biệt hiệu sau đây được nêu ra theo thứ tự A, B, C (thứ tự alphabet).

  • Đặng vũ Ái và Cao xuân An đuợc ghép chung lại là hai bạn Ái Ân. Hai bạn này ngồi cùng bàn cạnh nhạu.
  • Phạm Bính có biệt hiệu là Phạm Boóng, hay Phạm Bính Boong. Bính là trưởng lớp 3B1 có vóc dáng thể thao, chơi bóng chuyền rất giỏi. Sau này Bính còn làm trưởng ban thể thao của trường. (Bính boong là âm thanh đánh giờ của chiếc đồng hồ treo tường tên là Westminter).
  • Nguyễn Bình được tặng danh hiệu “Bình LeBossé” vì  Bình hay cầm cuốn sách toán đại số LeBossé.
  • Lê hồng Chí biến thành Lê hồng Chuột (do chữ chuột chí mà ra).
  • Trần văn Chu bị gọi là Trần văn Chù (do chữ chuột trù mà ra).
  • Đào kim Chung được tặng thêm tên nữa là kép Ngọc Toàn (Kim Chung và Ngọc Toàn là hai đào kép nổi tiếng của đoàn hát Kim Chung, thường diễn cặp với nhau).
  • Chu tam Cường trở thành Chu tam Co (ba con cò).
  • Lê danh Đàm  được sửa lại là Lê Đánh Đầm.
  • Trần văn Dương hóa thành Dương Dê Xồm hay Trần văn Dê (chữ dương có nghĩa là con dê).
  • Nguyễn đình Đức gọi trại đi là Nguyễn đình Đít,  hay nói lái đi là Nguyễn đừng Đít hay tệ hơn nữa thành ‘’Đức Cống’’. Chữ này đọc ngược lại có nghĩa rất xấu.
  • Ngô dụng Đức bị sửa lại là ‘’Ngô Dâm Dục’’. Đức đánh bóng chuyền giỏi và “pha chè” (nói chuyện vui) có duyên nên lôi cuốn rất nhiều bạn hữu.
  • Bùi quang Hân gọi là ‘’Bần Cùng Hôi’’. (Bần cùng có nghĩa là nghèo khổ)
  • Nguyễn Hiệp thành Nguyễn Hiếp (bạn Hiệp hay vẽ các bộ râu dê vào các thẻ học sinh của các bạn). Bạn nào vô phước khi ra chơi để quên thẻ học sinh trên bàn học, thì lúc vào sẽ bị hỡi ôi vì hình của mình trong thẻ đã bị ai gắn cặp râu dê vào.
  • Trưong thiệu Hùng bị gán biệt hiệu ‘’Râu Bể ‘’, rồi Hùng Tầu và sau cùng là Trưong Phụ (quan Thái Thú nhà Minh bên Tầu sang cai trị nước ta).
  • Phạm quang Huyến là Huyến Vẩu hay ‘’Huyến Nha Thức Lồi Lõm’’ (danh từ này xuất phát từ môn Vạn vật khi học về loài khỉ, về các con Hắc Tinh Tinh), vì Huyến có hàm răng cửa chạy ra chạy vô rất mất trật tự.
  • Nguyễn trọng Huyên bị gọi là ‘’Xã thâm’’ (có lẽ do sắc mặt của Huyên). Bạn Nguyễn trường Kỳ trong lớp đã tinh nghịch giới thiệu biệt danh này với thầy Lâm Tài dạy Việt Văn, và thầy Tài đã vô tình gọi Huyên bằng ‘’Xã Thâm’’ đã khiến cho anh em được dịp có một trận cười thích thú.
  • Vũ Hứa gọi lái và trại đi là ‘’Vữa Hũ’’ (hũ đựng đồ ăn đã bị hư).
  • Nguyễn quốc Khải  đổi lại là Nguyễn quốc Khỉ hay Khải Hướng đạo (Khải là một hướng đạo sinh).
  • Nguyễn trường Kỳ gọi là Kỳ Sứt. (Răng cửa của kỳ bị sứt một chút, và anh em rất nể Kỳ vì Kỳ đánh boxe rất ngầu).
  • Trần đăng Khánh được mệnh danh là Khánh Cà lăm hay Khánh Solex (vì Khánh nói nhanh hơi bị cà lăm và thường hay đi học bằng xe Solex).
  • Nguyễn văn Lanh được tặng biệt hiệu là Lanh Bài Lao (nhà của Lanh ở gần bệnh viện Bài Lao, đường Nguyễn thiện Thuật).
  • Ngô huy Lãng được mệnh danh là Lãng Lõ, Lý Hôi,  Lãng De Gaulle hay ‘’Jean Cu ly de Lõ’’. Bạn Lãng có mũi đỏ dài và cao như người Pháp. Chữ cu li (coolie) có nghĩa là ngươi phu khuân vác.
  • Thành quang Lân nói lái đi là Thần quang Lanh.
  • Nguyễn văn Lộc bị gọi là Lộc Cộc Đuôi. Bạn Lộc có bàn tay khỏe, bóp rất mạnh và rất đau. Chữ  ’’cộc đuôi ‘’ thường được dùng cho con chó đã bị chặt đuôi.
  • Trần mộng Lâm có biệt danh là Lâm thợ điện, Lâm Taureau hay Lâm bò rừng. (Xin nói rõ Lâm thợ điện là một tay anh chị nổi tiếng ở khu Bàn Cờ thời bấy giờ, nhưng bạn Lâm của chúng ta rất hiền lành và học giỏi.).
  • Trần Lương chính là Trần Lươn hay Lương Alophen (muỗi sốt rét) vì sắc mặt Lương vàng vọt như bị sốt rét. Anh em vẫn thường được Lương cho ăn đường phèn và kẹo mạch nha (hai đặc sản  rất ngon của tỉnh Quảng Ngãi). Chữ lươn có nghĩa là con lươn (eel)
  • Dương văn Long có thêm hai tên mới là ‘’Păng ta lông’’ hay ‘’Long Samson’’ (sau này Long làm nghị viên hay dân biểu. Long có đầu bù xù giống như Samson trong phim Samson and Dalila). Păng ta lông (Pantalon) có nghĩa là cái quần dài.
  • Hà đức Long  trở thành ‘’Gà đứt Lông’’.
  • Nguyễn thạch Lục tạm dịch là ‘’Người đá xanh’’ và đồng thời bị gán biệt hiệu là Nguyễn thằn Lằn (thằn lằn= lizard).
  • Hà văn Mẫn coi như Hà văn Mẩn hay Chế Mân (tên của một vị vua nước Chàm).
  • Đặng đức Nghiêm được mệnh danh là ‘’Nghiêm Sếu’’ hay Sếu Vườn. Bạn này cao nhất lớp.
  • Ngô trọng Ninh hay ông ‘’Nỉnh ông Nang’’ cũng thế. Hồi nhỏ trẻ con thường hay hát : ‘’Ông Nỉnh, ông Ninh ông ra đầu đình lại gập ông Nang.  Ông Nảng, ông Nang, ông ra đâu làng lại gập ông Nịnh’’.
  • Nguyễn văn Ngọc hóa thành Nguyễn văn Ngốc hay Ngọc Méo. Ngọc có miệng bẩm sinh hơi bị méo một chút.
  • Nguyễn sĩ Phú có biệt hiệu là ‘’Tỵ Bái’’ (tên một nhân vật trong tiểu thuyết Khói Sóng của nhà văn Nguyễn Hoạt. Sau này Sĩ Phú trở thành ca sĩ rất nổi tiếng. Sĩ Phú có giọng hát rất truyền cảm, trầm ấm đặc biệt.
  • Phùng quốc Tấn được gọi là ‘’Tấn Rađê ’’, Rađê là tên một giống người Thượng Rađê ở trên vùng cao nguyên Nam Phần)
  • Đoàn trọng Thông gọi là ’’Thông Lính’’ (Thông lúc đó đang ở trong Thiếu sinh Quân). Sau này để phân biệt với một Thông khác (Trịnh quốc Thông), cả hai đều học cùng lớp ở Đại Học Sư Phạm, anh chàng Thông sau được gọi là ‘’Thông Thầy’’.

Một số các bạn sau đây “may mắn” không bị gán biệt hiệu: Trần văn Khởi, Lê trọng Mưu, Nguyễn đăng Khôi, Hà ngọc Thể, Hà ngọc Bảo, Đặng đức Tuấn, Đặng gia Thoại, Bùi hồng Cẩm,  Ngô thái Sơn, Nguyễn thế Hưng, Luu văn Vịnh (sau đổi sang ban C)  v.v…
Không những các bạn đặt biệt danh cho các bạn cùng lớp, mà ngay cả các ’’Bậc Thầy’’ cũng là nạn nhân của trò chơi “quái ác” này :

  • Thầy Giám Học Nguyễn hữu Văn được gọi là Cụ Văn (nhưng tên này bị học sinh nghịch ngợm đọc lái ngược lại).
  • Thầy Tổng Giám Thị Nguyễn hữu Lãng được gọi “xách mé” là Tổng Lãng.
  • Thầy Lưu trung Khảo dạy Địa Lý bị gọi là ‘’Lung Tung Khảo’’ hay ‘’Laika Khảo’’ (Laika là con chó của Liên xô đầu tiên được đưa lên không gian).
  • Thầy Trần đình Ý (dạy Pháp Văn lớp đệ nhất B1) bị tặng biệt hiệu ‘’Tư Húi’’. Thầy Ý di làm bằng xe đạp và thường xuống xe, dắt bộ khi băng qua ngã tư. Tư húi có nghĩa là người thợ hớt tóc.
  • Thầy Bùi duy Hiển (dạy Toán lớp đệ nhị B1) được biết đến như là Hiển Loe hay Hiển thuốc lào (thầy Hiển hay hút thuốc lào bằng điếu ống, khi hút điếu ống âm thanh phát ra có tiêng kêu lọc sọc).
  • Thầy Nguyễn văn Phong (dạy toán lớp đệ tam B1) đuợc gọi là Phong Gió để phân biệt với thầy Trần quang Phong (Phong Lửa).
  • Thầy Trần thế Hiển (dạy Lý Hóa lớp đệ nhất B2) được gọi là Hiển Khịt (thày Hiển hay khụt khịt mũi).
  • Thầy Bùi đình Tấn dạy Sử lớp đệ tam B1 được gọi là thầy ‘’Bùi Đinh Mười Tạ’’ (trong phép đo lường: 1 Tấn = 10 Tạ).
  • Thầy Nguyễn văn Phú dạy Toán Học lớp đệ nhất B1, B2, vì bụng bự mà bị gán tên là ‘’Phú Bệu’’. Thầy Phú rất nổi tiếng vì dạy hình học và đại số rất dễ hiểu, thầy còn có biệt tài vẽ hình tròn trên bảng rất đẹp và không cần dùng tới compas.
  • Thầy Nguyễn ngọc Cư dạy Triết Học lớp đệ nhất bị gán biệt hiệu là ‘’Cư Bướu’’ do cái bướu trên cổ của thầy.
  • Thầy Nguyễn gia Bảo (dạy thể dục) chính là ‘’Bảo Amourteur’’: thày Bảo trẻ và rất đẹp trai. (Chữ amour tiếng Pháp có nghĩa là tình yêu).

Những biệt danh vừa kể trên đã in đậm vào trí nhớ của các học sinh thời đó và như còn văng vẳng bên tai của chúng tôi.
Đã hơn 50 năm qua nhưng chúng tôi vẫn còn nhớ tới các thầy, các bạn qua những kỷ niệm cũ và các biệt danh. Nếu trong khi ghi lại các biệt danh trên, chúng tôi có điều gì sai quấy hay xúc phạm, xin quý thầy và quý bạn thứ lỗi cho.  Cũng xin thông cảm cho cái “bộ nhớ” quá cũ này đã quên mất một số bạn khác. Gợi lại các biệt danh này chứng tỏ là trong lòng chúng tôi vẫn còn giữ lại hình ảnh thân thương của các thầy, của các bạn chứ không có ác ý hay hậu ý gì cả. Chúng tôi hy vọng ít nhiều đã khơi lại một số kỷ niệm của những năm 1957-1960, một thời đầy ước mơ và mộng tưởng, với những hình ảnh dấu yêu của các thầy và các bạn hiện giờ vẫn tồn tại hay đã rời bỏ chúng ta để đi đến một phương trời xa xôi nào đó rồi!

Gs.Trương thiệu Hùng                                                             

[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates