Mẹ Tôi, Người Lifeguard Không Biết Lội

GS Nguyễn Hữu Phước

 

Mình ơi, mình có biết là hôm nay chỉ còn ba ngày nữa tới ngày giỗ Mẹ chồng của em không?

Làm sao anh quên được ngày nầy khi mỗi năm đại gia đình chúng ta chỉ tổ chức đám giỗ hai lần cho Cha và Má anh.
  
Vậy Mình kể cho em về Bà Nội của Tô Tô, con chúng mình.

Được.  Anh sẽ nói về Má trong một bối cảnh của những ngày mà anh sống dưới sự chăm sóc của Má. Hơn nữa Anh sẽ kể về người Má không biết lội mà lại làm lifeguard. 

Chuyện nầy em chưa nghe lần nào, kể đi Mình. 

Dòng sông của tuổi ấu thơ

Đa Phước là tên của một dòng sông nhỏ, chảy ngang  qua quận lỵ Mỏ Cày (tỉnh Bến Tre), đổ vào sông  Hàm Luông tại “Vàm Nước Trong”.  Hàm Luông là một trong những nhánh chánh của Tiền Giang. Sông Đa Phước tên là “Rạch Vàm Nước Trong”, nhưng vì chảy ngang làng Đa Phước Hội nên còn có tên là Sông Đa Phước.

Tôi sống bên dòng sông nầy trong mười một năm đầu của cuộc đời và gắn bó với nó nhiều từ lúc 5 tuổi cho đến lúc 14 tuổi. Trong suốt 11 năm đó, nhiều ngày trong tuần, tôi đã câu cá, tắm lội và chèo ghe đùa chơi với các bạn cùng lứa tuổi.

Đa số những ghe xuồng trên sông Đa Phước thuộc loại xuồng nhỏ nhất: “xuồng ba lá”.  Xuồng nầy còn có tên là “xuồng tam bảng” Tên “ba lá” thật ra do chữ tam bảng mà ra, vì thân xuồng được làm bằng ba miếng ván dài, uốn cong và nối với nhau bằng những chốt cây và những cái ngàm.  

Chèo lái vọt 

Nơi có gắn hai cây chèo trở thành phần lái của chiếc xuồng.  Khi chèo, phải chèo cả hai cây một lượt, và sức đẩy phải đồng đều, xuồng mới đi thẳng.

Chèo ghe xuồng kiểu nầy có tên rất đặc biệt là “chèo lái vọt”.  Khi chèo, nếu có thêm một người bơi dầm phía mũi xuồng nữa thì xuồng đi rất nhanh.

Cũng như việc biết lội, tôi biết bơi xuồng và chèo xuồng, kể cả việc chèo lái vọt, từ lúc năm tuổi. 

Tới giờ nầy, nhìn những hình ảnh do bạn bè từ VN đem qua tôi vẫn thấy còn vô số những chiếc xuồng, những chiếc ghe nhỏ, hay trung bình, dài độ 3 hay 4 đến 6 thước (10-12 đến 18 feet) với hai mái chèo phía sau.  Thiên hạ vẫn còn tiếp tục “chèo lái vọt” một cách nhịp nhàng bên cạnh những chiếc ghe có gắn máy “đuôi tôm”, một loại máy có chân vịt nhỏ, gắn ở cuối một thanh sắt tròn và xoay vòng nhờ một động cơ nhỏ. Hình ảnh “chèo lái vọt” vẫn còn là một trong những hình ảnh đẹp trên những dòng sông, nhứt là những nơi có chợ nổi, ghe xuồng đi lại nhộn nhịp, buôn bán tấp nập. 

Xuồng Ba Lá

Thêm vào, lúc còn học tiểu học, ngoài giờ học tôi thường câu cá ở ngay trên giòng sông Đa Phước.

Tuy tôi còn nhỏ, nhưng tôi giăng câu “nghề” lắm.  Đó là lời tôi nghe mẹ tôi sau nầy kể lại cho các cháu tôi nghe.  Tôi câu “nghề” lắm vì bữa nào tôi đi câu là bữa đó, cơm trưa hoặc cơm chiều chắc chắn có cá kho hoặc cá chiên dầm tỏi ớt. 

Sau đó đến năm 12 tuổi, tôi lên Sàigòn học trung học (Petrus Ký). Trong ba năm đầu, cứ mỗi khi có ngày nghỉ ở trường, tôi lại về quê bên dòng Đa Phước. Tôi lại tiếp tục, một vài lần trong mỗi tháng, tùy theo “con nước” (thủy triều) phải “thức khuya dậy sớm”, không phải để học bài, mà là để theo Bác Năm đi “đóng đáy” - đáy là tên một loại lưới cá.

Từ Sàigòn về đến chợ Mỏ Cày phải đi xe qua không biết bao nhiêu cây cầu và hai chuyến bắc (phà). Những cây cầu lớn gồm có cầu Bến Lức, và cầu Tân An. Xuống đến Mỹ Tho phải đi ngang qua bắc sông Mỹ Tho, và cầu Ba Lai mới tới Bến Tre. Từ Bến Tre về Mỏ Cày phải đi qua Bắc Hàm Luông, và rất nhiều cầu nhỏ. Đường dài chỉ 100 cây số mà phải mất đến 5 giờ vì hai chuyến bắc nầy. Sông Mỹ Tho, Ba Lai và Hàm Luông là ba nhánh chánh của của Tiền Giang.  Khi ngày nghỉ chấm dứt, trên đường từ Mỏ Cày về Sàigòn thì cũng vượt qua bao nhiêu đó cầu và bắc, theo chiều ngược lại.

Hiện tại 2010, xe đã chạy suốt từ Sài Gòn về đến Mỏ Cày khoảng hai giờ vì đã có hai cây cầu mới xây cách đây khoảng vài năm, thay thế các chuyến phà.

Việc theo làm nghề hạ bạc bán thời gian trong dịp hè bị gián đoạn sau năm tôi được 14 tuổi.

Dòng sông Đa Phước và người “Lifeguard” không biết lội

Hiện nay 2010, tất cả đều đã là một dĩ vãng xa xăm. Phần rõ nhất  còn lại trong ký ức là đời sống ngây thơ, hạnh phúc của tôi lúc còn nhỏ, qua hình ảnh của người mẹ Việt Nam lúc nào cũng trông ngóng con về thăm nhà.

Người lifeguard không biết lội

Nhớ lại, Mẹ đã đứng cạnh dòng sông mỗi lần tôi xuống tắm lội dưới sông cho đến khi tôi lên bờ. Mẹ tôi sợ tôi “ỷ lội giỏi” lội ra xa bờ quá có thể chết đuối. Hoặc khi tôi “mượn xuồng” chèo chơi trên sông, Mẹ cũng đứng chờ vì nếu chủ xuồng trở lại thì Mẹ xin phép chủ xuồng cho tôi và gọi tôi đem xuồng về trả lại.

Nhớ lại chuyện cũ mà tôi tức cười. Mẹ tôi nào có biết lội. Vậy mà Mẹ luôn đóng vai trò “lifeguard” để coi chừng cho con tha hồ bơi lội trong dòng nước đôi khi chảy khá mạnh. Giờ đây nghĩ lại, nếu có chuyện gì xảy ra cho tôi lúc tôi ở dưới nước, Mẹ cứu tôi bằng cách nào? Thế mà lúc ấy Mẹ cũng “an lòng” đóng tròn vai trò “lifeguard” và con cũng “yên chí” tha hồ bơi lội hằng nhiều giờ dưới dòng sông.

Anh lính Maroc và sông Đa Phước

Trong những kỷ niệm của việc lội sông và bơi xuồng ba lá, việc vớt một anh lính Maroc tắm sông và suýt bị “ma-da” kéo, có lẽ là chuyện buồn cười nhất. 
Số là đồn lính của quận lỵ cách nhà cha mẹ tôi chừng năm trăm thước, trên một ngã ba sông. Vào giữa thập niên 1940, trước khi lính Nhật đến, thì có một số lính Tây, hầu hết là “Tây trắng” đóng giữ. Sau khi Nhật chiếm một thời gian, thì Tây chiếm trở lại. Nhưng lần nầy có nhiều “Tây đen Phi châu” như người Maroc và Senegal (còn có biệt danh là “cột nhà cháy” vì nước da đen tuyền, hay “Tây gạch mặt” vì trên mặt của họ có những lằn giống như thẹo do phong tục gạch mặt làm duyên của họ). 

Một hôm đang bơi xuồng ba lá trên sông, nước chảy khá mạnh, tôi thấy một anh lính Maroc lội theo dòng nước. Chuyện tắm sông của toán lính đồn trú không có gì lạ, nhưng chỉ ở gần đồn của họ thôi. Còn anh Maroc nầy đã lội xa đến gần nửa cây số rồi. Anh ta lại vẫy tay có vẻ chới với. Tôi biết lội, như đã nói, và thấy anh lính không ở trong tình trạng lội bình thường, cần giúp đỡ.

Vì “điếc không sợ súng”, tôi còn nhỏ quá không biết sợ chìm ghe, bơi xuồng về phía anh lính. Anh ta với tay đeo vào be xuồng và luôn miệng nói “merci” - cám ơn; tôi hiểu tiếng nầy vì trong nhà có nhiều anh chị đi học và dùng rồi. Tôi ra dấu bảo anh ta leo lên xuồng. Anh ta cứ lắc đầu quầy quậy, chỉ chỏ lung tung. May cho đời tôi là anh ta không leo lên, chớ nếu anh ta làm vậy thì chắc chắn xuồng lật rồi, vì anh ta to lớn và nặng ký lắm. Anh chỉ xuống nước, rồi chỉ vào bờ và xổ hàng loạt tiếng Tây. Tôi mù tịt. Đành bơi xuồng kéo anh ta vào chỗ có cây cầu ghe đậu.

Trong lúc đó mẹ tôi đã “la làng” cầu cứu với hàng xóm. Thiên hạ bu lại khá đông. Người thì la rầy tôi, người thì khen tôi. Lúc ấy tôi bối rối và không hiểu vì sao lại có những lời phê phán trái ngược của người lớn. Phần anh lính, tới bến, anh ta đeo tay vào cầu ván, nhưng không chịu leo lên mặc dầu có nhiều người đưa tay ra giúp kéo anh ta lên. Lại một màn ngôn ngữ bất đồng.

Một người chị của tôi, đã học đến lớp nhứt (tức đã đi học được sáu năm tiểu học có học “tiếng Tây” (Pháp văn) trong hai năm chót, cũng chạy ra gần cầu ván. Sau một ít phút, chị hiểu được là anh lính nói gì. Tội nghiệp chị tôi (lúc đó độ 14 tuổi) cứ đứng bụm miệng cười nhưng không chịu nói. Những người hàng xóm đứng chung quanh hỏi chị có hiểu nó cần gì không, chị tôi gật đầu mà không chịu trả lời câu hỏi của những người khác. Họ hỏi nhiều lần, chị tôi mới chịu kề miệng vào tai của mẹ tôi và thì thầm câu gì đó. Nói xong chị co giò chạy một mạch vào nhà.

Mẹ tôi lập lại lời nói của chị tôi cho đám đông và cả nhóm cười rộ. Một ông hàng xóm vào nhà đem ra một “cái chăn” và đưa cho anh lính. “Cái chăn” giống như cái sà-rông của phụ nữ Cambodia, hay Thái, tức  là cái quần “không ống” của đàn ông dùng, hoặc mặc thường xuyên,  hoặc chỉ dùng khi thay quần mà thôi, rất tiện lợi trên ghe, hay ở ven sông, vì các nơi đó không có “nhà tắm” hay phòng riêng để thay quần áo. Anh ta vận chăn dưới nước và leo lên cám ơn mọi người và đi bộ trở về đồn.
  
Các bạn có biết chị tôi nói câu gì với mẹ tôi không? Chị ấy nói :  “Anh Maroc nói là anh ta không có quần, nên không thể trèo lên được”.

Hôm sau, anh ta đến tìm tôi và cho tôi $50.00.  Lúc đó năm chục đồng bạc VN có giá trị rất lớn: một đồng bạc mua về mười gói xôi cho cả nhà ăn. Và với 25 xu tôi đã mua được một một tô cháo lòng, ăn tại chợ.

Cho tới giờ nầy tôi vẫn không biết là anh Maroc kia “thoát y” trước khi nhảy xuống sông tắm lội, hay vì vùng vẫy với dòng nước chảy mạnh của sông Đa Phước mà bị nước cuốn trôi quần đi.

Những kỳ nghỉ hè về quê thăm Mẹ

Khi phải rời con sông Đa Phước để lên Saigon học, mẹ tôi đã dẫn tôi đi dọc theo bờ sông để lên bến xe, vừa đi vừa căn dặn đủ điều, nhứt là “phải biết lo học để tấm thân được nhờ về sau”, và “ráng học cho anh chị con được vui lòng”.

Rồi mỗi độ Tết đến, hay hè sang, khi về đến đầu đường bờ sông gần nhà, tôi đã thấy Mẹ tôi đứng chờ ở đó. Câu đầu tiên mà tôi thường nghe Mẹ hỏi là “con học hành có đàng hoàng không?”  Câu thứ hai là “mẹ có rang xổi một mớ tép bạc tươi cho con, và có nướng vài con tôm càng cho con nữa.” Thế nào chiều đầu tiên ở nhà, cũng có màn tắm sông. Và mẹ tôi tiếp tục đóng vai “lifeguard” cho đến khi tôi lên bờ.

Những kỳ nghỉ hè qua thật nhanh. Mẹ lại dẫn tôi ra bến xe... Mẹ lại đón tôi ở đầu đường ven sông, suốt bảy năm trung học của tôi. Dòng sông Đa Phước, những con sông mà tôi vượt qua khi về nhà vào những vụ hè, khi đi trên những chuyến bắc bập bềnh hàng giờ qua sông Mỹ Tho, Hàm Luông, đều có những kỷ niệm nho nhỏ của những chuyến thăm nhà. Trong ký ức còn có nhiều câu ca dao về công ơn cha mẹ mà tôi nghe ở vùng sông Đa Phước. Một vài câu:

Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao Mẹ già.
Mẹ già đầu bạc tuổi cao
Làm con báo đáp biết sao cho vừa.

     
                               
[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates