Mình Ơi Cho Em Hỏi

Gs. Nguyễn Hữu Phước
(viết theo trí nhớ, không theo thứ tự thời gian)

Bà: Mình ơi !  

Ông: Dạ, Ni Cô Diệu Nhiễu của Anh muốn chất vấn Anh điều gì?
 
Ông hỏi lại như vậy vì khi nghe hai chữ “mình ơi”, não bộ của Ông ban bố tình trạng khẩn cấp, “báo động đỏ”. Trong vài sát na - vài phần triệu triệu của một giây - Não Trưởng đã huy động hơn vài tỷ tế bào não để giúp Ông đối phó với một câu hỏi khó mà Bà thường hỏi - Chừng nào Bà sẽ về chầu Trời? Nhưng câu hỏi của Bà là một câu thông thường.

Bà: Mình có chương trình gì đặc biệt cho em trong ngày Vinh Danh Mẹ “Mother’s Day” vào tháng 5 không mình?
 
Não Trưởng truyền mật âm vào thần kinh nhĩ của Ông là “lệnh báo động đỏ được thu hồi”. 

Ông cảm thấy yên tâm nhưng vẫn bắt đầu bằng một câu thuộc loại “câu giờ” theo thói quen: Bữa nay sao Mình không  N N, M M như thường lệ mà lại kêu “tui” bằng “mình” vậy?

Bà: Em bắt chước Cô Ba, Dượng Ba. Lần đầu, khi mới nghe họ gọi nhau, thấy “kỳ” quá hà.  Nhưng thét rồi sao nghe dễ thương, thấy ngọt xớt như đường phèn, nên em bắt chước. Với lại mình hay nói về chuyện tiếng Việt phong phú, nên em gọi như vậy cho mình vui. Chịu hôn?

Ông: Chịu chớ sao không. Nhưng em còn biết chữ nào khác để gọi “tui” nữa hay không?

Bà: Xí, dễ ẹt hà. Mình ráng banh tai nghe tài dùng tiếng Việt của “mụ” cựu học sinh Trường Chim” *: Tiếng Pháp Việt hóa thì có: Sê-ri (chéri). Tiếng Anh thì có honey, darling, my love, my dear. Chữ Việt có thể gọi bằng tên, anh, em, cưng, mình, bồ, người yêu của tôi, bạn đời của Anh/Em, tía thằng Tèo, ông nội thằng Tý, má bầy trẻ, tía sấp nhỏ, tùy cơ hội, tùy trường hợp, tùy tuổi tác v.v.  Còn chữ gì nữa không Mình, em bí rồi.

Ông: Còn chớ. Trước hết là chữ “ai”.  Chữ nầy hay lắm vì khi giận nhau hay khi nói bóng nói gió, chữ “ai” dùng ngôi thứ nhất cũng được mà dùng để nói về “người kia” cũng được, như trong câu thơ: 

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai. 

Kế đến có một chữ hơi xưa, ít nghe nói đến là chữ “bậu” mà phái nam dùng gọi phái nữ. Trong thơ vui VN có câu:

Qua với bậu không duyên không nợ
Bậu với qua như Tấn với Tần
Sống dương gian không được nằm gần
Thác âm phủ rẽ phân đôi ngã …

Nhưng Anh thích nhất hai ba chữ sau đây.  Khi Mình giận Anh, Mình nói lẫy: Thôi “bệ hạ” ơi, ông đừng có làm cao nữa.   Hoặc khi Mình năn nỉ anh: “Thôi! Ông vua  của lòng em ơi,  ái hậu của hoàng thượng biết lỗi rồi, xin hoàng thượng đừng  giận nữa. Những chữ nầy Mình học từ  những “phim bộ” của Hồng Kông và Đài Loan. Nhưng Mình thích Anh gọi Mình bằng gì? 

Bà: MẸ, một chữ gọn đó là Em vui rồi. Em gọi Anh là BA và xưng là MẸ, và ngược lại.

Ông: OK. BA sẽ tiếp tục nói chuyện chữ Mẹ cho MẸ thưởng thức. Sách báo, CD, đã nói rất nhiều về tình mẫu tử, về sự hy sinh của người Mẹ cho gia đình cho con cái v.v.  BA sẽ chọn con đường tìm về nguồn, qua tục ngữ, và ca dao xem ngày xưa dân ta nói gì về chữ Mẹ hay Má đa dạng trong ngôn ngữ Việt Nam. MẸ có biết bao nhiêu chữ dùng gọi bà Mẹ, người sanh ra các con?

Bà: Con có thể gọi Mẹ là Ma Măn – do tiếng Việt gốc Pháp  Maman; Má, Mạ - dân Miền Trung của Việt Nam thường dùng chữ nầy;  Mẹ, U, và còn gì nữa không BA.

Ông: Còn vài chữ tiếng Việt : Bâm, hay Bầm, tiếng gọi mẹ của một số dân sắc tộc miền cao nguyên Bắc Việt, và dân Việt dùng theo:

Bầm ơi Bầm làm gì đấy
Bầm ra ruộng cấy hay Bầm nghỉ ngơi

Bầm ơi có rét không Bầm
Hiu hiu gió thổi lâm râm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy Bầm run
Chân bước xuống bùn, tay cấy mạ non.
Mạ non Bầm cấy mấy đon*
Ruột gan Bầm lại héo hon mấy lần.
(*đon = bó)

Ngoài ra dân ta còn dùng chữ Mợ, như Thầy Mợ; chữ Thiếm cũng  khá thông dụng ở vài tỉnh vùng Tiền giang. Ngoài ra còn có vài chữ gốc Hán Việt dùng chung với chữ Mẫu = Mẹ.

Chữ mẫu với nghĩa bà Mẹ:  Mẫu Thân; Mẫu Từ - Mẹ hiền; Mẫu Hậu -  còn gọi Quốc Mẫu - chỉ Mẹ của vua (danh xưng khác của bà Má vua là Hoàng thái hậu); Mẫu hệ - thể chế theo đó huyết thống của mẹ chi phối đời sống văn hóa của một nhóm người, một sắc tộc. 

Thêm vào, chữ Mẫu còn có nghĩa là “đạo làm mẹ” như “mẫu giáo”  là lời giáo huấn của Mẹ;  còn có nghĩa  là trường hay lớp và các nhân viên  giáo dục cho các con em trước khi vào Lớp Một - năm đầu tiên của bậc tiểu học khi trẻ được sáu tuổi. Mẫu, còn có nghĩa là cái gốc như “mẫu tự”,“mẫu âm”, chữ gốc, âm gốc. 

Ông nói tiếp:  Để BA đọc cho MẸ nghe vài câu ca dao vui về người con dâu hung hăng, dọa mẹ chồng:

Hai tay cầm cái búa đồng
Hỏi dọa Mẹ chồng có sợ tui không?
  
Con ơi mẹ sợ lắm thay
Con cầm cái búa, mẹ (sẽ) chun ngay xuống giường.

Mẹ chun tui cũng chun theo
Tôi lấy cù nèo tôi kéo mẹ ra.

Bà:  Còn chàng rể dữ, đối phó với mẹ vợ ra sao hở BA?
Ông: Sách văn chương bình dân có ghi vài câu sau đây:

Xăn quần cho gọn
Bới tóc cho cao*
Đá mẹ vợ xuống ao
Cho biết tài chàng rể.  A ha ! !
*Thuở xa xưa, dân việt, phái nam, cũng để tóc dài.  Sau nầy khi người Pháp sang chiếm nước Việt (1862-1945) con trai Việt mới theo phong tục hớt tóc gọn, con gái Việt uốn tóc theo “đầm” (tiếng pháp:dame, chỉ người đàn bà) như ngày nay.

Thường thường, khi nghe câu gì “là lạ”  - có vẻ hơi lạ -  Bà chất vấn Ông ngay. 

Nhưng sao Bà lại im hơi, lặng tiếng. 

Ông hỏi nho nhỏ: MẸ còn thức không.  Bà vẫn lặng thinh.  Ông an lòng lắm, nhưng  Ông vẫn “nói vói” bằng giọng thì thào:  Tối mai BA kể tiếp chuyện chữ Mẹ MẸ nhé. 

Ông rón rén về phòng mình với tấm lòng an vui. 


03-24-2013 NHP

Chú thích:  *Trường Couvent Des Oiseaux, một trung học tư của các Sơ ở Việt Nam khoảng 1955-1975, dùng tiếng Pháp để dạy học.

[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates