Phiếm Luận Phở, Mì, Hủ Tiếu, Bún

Hóa ra tương đương cái món noodle soup của Tây đầm, gọi là tương đương theo cái nghĩa dịch thuật, chứ hổng phải tương đương theo nghĩa món ăn tương tự nhau, thì ở cái xứ con Rồng cháu Tiên với bốn ngàn năm văn hiến có tất cả 4 trường phái: Phở, Mì, Hủ Tiếu và Bún.

Cả 4 lọai “noodle soup” này đều có 2 mẫu số chung giống nhau: các sợi bánh dài và nước lèo, chỉ trừ những trường hợp biến dạng như mì hoành thánh, hủ tiếu khô , v.v..

Nhưng chỉ có 2 mẫu số chung ấy thôi, còn lại là đường ai nấy đi, “mỗi bên một vẻ, mười phân vẹn mười”.

Nhưng nào chỉ có 4 trường phái là hết đâu, ngay cả trong nội bộ của mỗi trường phái cũng không biết bao nhiêu là rồng rắn.

Nói về phở thì lật tự điển ra thấy có chép từ những kiểu phở kinh điển như phở tái, phở chín cho đến những bát phở cầu kỳ hơn như phở tái nạm, phở gầu, phở chín tái, có béo, không béo, có gân, không gân, rồi cho đến những thứ chiêu độc như phở áp chảo, phở sốt vang rồi biến tướng ra phở xào có nước, phở xào không nước.

Rồi lâu lâu nổi hứng bỏ thịt bò ra, thay vào là phở gà, phở lợn, phở chay, v.v..

Chưa hết, các quán các hàng còn tự biên tự chế những thứ phở mà chưa chắc ai cũng hiểu nó muốn nói gì, nói chi đến người nước ngoài vô học tiếng Việt: phở xe lửa (train noodle soup: Tây nó hỏi vậy chớ bộ phở này chỉ bán trên xe lửa thôi hay sao ?), phở tàu bay (airplan noodle soup: Tây nghĩ là chắc phở này là của mấy em tiếp viên của hãng Air Vietnam đem dọn ra cho khách ăn trên máy bay), phở thập cẩm (nghĩa là có cái gì bỏ cái đó vô tô phở).

Người Việt cái gì cũng khoái bỏ viên bỏ hòn vô cho nó trọn vẹn: thế là Phở lại biến tướng thêm, cho vào tô phở vài viên thịt bò, thế là thành Phở bò vò viên. Ăn cũng đã cần lắm, nhất là khi bò vò viên gân cơ, nhai nghe sột sọat trong miệng, ngon hết xẩy.

Từ Phở chạy qua bên Mì. Nếu Phở là quốc hồn quốc túy của dân xứ Bắc cờ, thì Mì nó thể hiện thấm tình “môi hở răng lạnh” của dân Giao Chỉ với mấy anh Ba qua Việt Nam lập nghiệp. Nếu nói Phở thì nói các gánh phở của 36 phố phường hay các tiệm phở “vang bóng một thời” như Phở Tàu Bay, phở Hiền Vương, v.v.. Nhưng nói đến mì thì không thể nào không liên tưởng đến các xe mì của anh Ba. Hổng biết các Bác/Mợ có còn nhớ cái xe mì hay không. Nó có mẫu mã hẳn hoi đấy nhé, chứ hổng phải ai muốn phác họa kiểu chi thì phác đâu. Xe mì  là một cái xe đấy, có 4 bánh hẳn hoi, chiều dài độ 2-3 thước, chiều ngang non một thước, trong xe có chỗ để anh Ba để nồi nước lèo, chỗ để xắt thịt xá xíu, thái hành thái tỏi. Cái nồi nước lèo cũng đặc biệt là phải có hai ngăn: một ngăn lớn là để nước lèo, ngăn nhỏ để nước sôi trụng mì. Mì sống thì anh Ba để trong mấy cái hộc tủ dựng trong mấy cái lồng kiếng vừa tránh ruồi vừa tranh thủ trưng bày mời mọc (marketing). Nhưng cái nét đặc thù nhất của mấy cái xe mì này là chung quanh xe mì, phía bên ngoài, chỗ khách ngồi ăn thì anh Ba cho vẽ tranh (tương tự kiểu fumetto - comic) trích phỏng theo những điển tích của sử Tàu. Những tranh này vẽ trên mặt gương (mirror), thi dụ chuyện Lữ Bố Ðiêu Thuyền, những tích thời Ðông Chu Liệt Quốc, Xuân Thu Chiến Quốc, Hán Sở Tranh Hùng... Tui nhớ mỗi lần đi ăn mì, trong khi chờ đợi tô mì ra, tui ngồi thưởng thức mấy tranh hình này, nhưng hổng biết tuồng tích ra làm sao bởi vì viết toàn bằng chữ Tàu, chỉ thấy áo mão giầy hia lộng lẫy. Mấy cái xe mì này đúng là một hình dáng đặc biệt của Nam bộ, nhất là SG Chợ Lớn. Xe xích lô đạp, xích lô máy bi chừ hình như không còn thấy, nhưng mấy cái xe mì này vẫn còn. Hổng biết ngày xưa ai vẽ kiểu cái xe mì, kể ra cũng phải là nghệ nhân thứ thiệt chứ hổng phải tay mơ đâu. Nếu mà cái xe mì được phác họa ở xứ cờ hoa thì chắc mấy anh Mỹ đã cho đăng ký copyright rồi.

Ðó là nói đến xe mì « bất động », có nghĩa là xe mì nằm yên một góc phố, và người ta đến đó mà ăn Mì.

Nhưng nói đến mì thì không thể nào không nhớ đến mấy cái xe mì lưu động: cả “dàn nấu” mì cho lên một cái xe ba bánh (dân SG Chợ lớn kêu là xe ba gác), anh Ba chiều xuống thì bắt đầu nổi lửa nồi nước lèo, thắp cái đèn khí đá lên, rồi đạp xe đi vòng vòng mấy khu phố cho đến gần giới nghiêm thì về nhà, đạp chậm thôi, đi bộ còn qua mặt xe mì của anh Ba, nhưng anh ba đạp chậm, còn mấy đứa nhỏ con anh Ba thì nó đi chân đất như ma rượt lòng vòng trong mấy con hẻm lân cận, tay nó đập lốc cốc hai thanh tre... lốc lốc, lốc cốc... chỉ có thế thôi, không cần rao, không cần loa, chẳng cần thông tin đa dạng, marketing chi cả. Dân trong xóm nghe lốc cốc thì biết là có xe mì lẩn quẩn đâu đó. Chỉ cần thò đầu qua cánh cửa kêu “Mì”, cứ làm như thằng nhỏ tên Mì, thế là chưa đầy năm phút sau cả một cái mâm nào mì lớn mì nhỏ, hoành thánh, tương hột, dầu giấm, ớt ngâm giầm cắt từng khoanh nhìn vô là thấy cay rồi. Ăn xong, chỉ cần để cái mâm ra ngoài khe cửa là thằng “Mì” nó biết là phải tới thu dọn chiến trường, và thu tiền. Tính ra thời hiện đại bên Tây bi chừ bọn giao piazza a domicilio (giao pizza tại gia), cũng hổng hơn nổi mấy thằng con anh Ba hồi đó.

Trở lại chuyện Mì: kinh điển thì có mì lớn, mì nhỏ, mì hòanh thánh, rồi biến tướng thành hoành thánh mì, mì khô, rồi hòa nhập với hủ tiếu thành tô “hủ tiếu mì”. Vì mấy anh Ba hổng có truyền thống ăn rau cỏ tươi như dân Giao Chỉ cho nên Mì thì không có màn nhổ cọng bẻ rau bỏ vô tô như ăn Phở. Nhưng ăn Mì thì phải có tương hột và dầu giấm và ớt tươi ngâm giấm. Dĩ nhiên mì thì hổng có thịt sống hay tái, chỉ có thịt xá xíu thái nhỏ thơm phưng phức. Và dĩ nhiên ăn mì thì hổng có màn nước mắm như ăn phở, vì anh Ba hổng có xài nước mắm, anh Ba chỉ xài nước tương tàu vị iểu.

Tui thì hổng biết gốc gác ở đâu ra Hủ tiếu, nhưng chắc là Hủ tiếu cũng đi từ Nam Bộ. Gốc gác thế nào mà người ta hay đồn Hủ tiếu Nam Vang thì tui cũng hổng biết. Và ở miệt lục tỉnh thì hay nghe nói hủ tiếu Mỹ Tho mới đúng hiệu con nai vàng. Tui thấy bánh hủ tiếu thì hao hao như bánh phở, nhưng nước lèo thì đúng là hoàn toàn Nam bộ, khác hẳn nước phở. Hổng biết nguồn gốc ở đâu ra mà hủ tiếu hay dính liền cái “bổ”: Hủ tiếu thì phải cho thêm hột gà hột vịt, trứng cút trứng chim, viên này viên nọ, thêm cả bò vò viên nên biến tướng thành hủ tiếu bò vò viên. Ăn ngon đã đành, mà nghe nói “bổ” kinh khủng, ăn xong là phải chạy “lòng vòng” cho nó hạ nhiệt.

Trường phái cuối cùng là Bún: Bún này nghe nói phần lớn là gốc miền Trung, cũng đủ cả, bún ốc, bún riêu, bún thang, bún măng, bún chả, bún cà-ry, bún giả cua, bún giả cầy. Tô nào cũng nước lõng chõng, và phải vừa ăn vừa hít hà, lâu lâu móc cái khăn tay ra hỉ mũi cái rột, rồi cầm đũa muỗng hít nữa.

Ngoài hai mẫu số chung như đã nói ở trên, xứ Việt Nam thụôc vùng nhiệt đới, nóng quanh năm, độ ẩm lại cao, 4 món này có một điểm tương đồng thứ ba nữa: ăn vô là vã mồ hôi, ăn xong như người mới đi tắm hơi về.

Thân.

Quan Vinh, khóa 1


Xin thêm dăm ba ch v chuyn Ph.

Trong bài phiếm luận mà Bác Phụng Da Gà cho xem có câu ni: “Danh từ 'phở' đã chễm chệ trong các tự điển, trong các thực đơn nhà hàng, trong các sách dậy nấu ăn. Tây đầm đã uốn giọng 'pho'!”

Chí lý. Chí lý. Tây đầm cũng phải uống lưỡi mà kêu “pho”.

Tui có con mụ vợ người Romana chính hiệu con nai vàng. Mỗi lần hỏi: chiều nay nấu đồ ăn Việt Nam chơi. Nấu món chi nhỉ?

Thế là thị chu mỏ uống lưỡi đánh giọng “fo, fo ...”. Thế là vợ chồng lú khú ra hàng thịt năn nỉ ông hàng thịt mấy cái xương bò về ninh nồi nước phở. Ăn phở bên xứ Tây, hàng quán sạch sẽ, mùa hè có máy lạnh, mùa nóng thì có nước lèo của tô phở nên hổng thấy lạnh.

Nhưng mỗi lần dẫn vợ về VN vô hàng phở, xứ nhiệt đới, nắng chang chang, nóng như thiêu đốt, ngồi ăn phở mà mụ vợ tui người mồ hôi vã ra như tắm. Thị vừa húp nước lèo vừa lau trán. Ăn xong, trả tiền xong, bước ra quán, gió đâu thổi hiu hiu, phất lên cái trán đẫm mồ hôi, thổi vô hai bên nách ướt chèm nhẹp, mụ vợ nói nhỏ với tui:

- Mi biết ăn phở bên VN rẻ hơn bên Tây phải hông?

Tui trả lời, giọng kinh tế :

- Thì đời sống bên ni rẻ hơn bên nớ...

Mụ nhoẻn miệng cười, cướp lời tui:

- Hổng phải vậy, bên VN ăn phở có cho không cả phần tắm hơi.

Hết ý !!! Finish Italy...

[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates