Có Những Cảnh Đời

Mùa Đông năm nay ở San Jose lạnh nhiều, đủ lạnh để chúng ta khoác lên mình những chiếc áo ấm sắc mầu mà chưng diện với cuộc đời mà mỉm cười với nhân gian.
Bên miền Đông thì tràn về những cơn bão tuyết lạnh lẽo chết người, nghe nói có những chỗ tuyết dầy đến cả thước phải xúc tuyết mấy giờ mới mở cửa nhà ra được. Những người Việt sống bên miền Đông chắc sẽ chẳng còn nghĩ đến chuyện đón Tết vì Xuân đâu không thấy mà chỉ thấy bên ngoài phủ tràn một mầu tuyết trắng trong nhà thì lạnh lẽo tái tê, thay vì đón Tết chắc chỉ muốn chui vô chăn ấm để trốn chạy cái rét lạnh kinh người.
Mùa Xuân đang đến ngoài, không khí Tết đang rộn rã khắp mọi nhà. Những đồng bào như tôi ở San Jose chắc đang quây quần cùng những người thân thương đón mừng ngày Tết bên ly rượu mừng cùng đòn bánh tét và nồi thịt kho, với những nụ cười, với những lời chúc, với những niềm vui. Hay những đồng bào của tôi đang co ro cuộn mình trong chăn ấm nơi miền Đông giá lạnh để mà rưng rưng nhớ về những ngày Xuân rất xa và rất nhớ, bao kỷ niệm rất xa nhưng rất gần.
Các ông bà, các anh chị, các em cháu của tôi ơi, có biết không ở nơi đây trên vùng đất USA đượm sữa và mật này còn có những đồng bào khác nữa của chúng ta, những đồng bào bất hạnh đã không còn 1 chỗ nơi để nương tựa, một mái ấm để tìm về.
Chúng ta ở nơi đây hay ở bên miền Đông Mỹ lạnh lẽo kia chắc sẽ không thể nào cảm nhận được cái lạnh như những đồng bào không nhà. Cái lạnh của họ không những từ cái lạnh giá của tiết Đông bên ngoài mà còn từ cái cô đơn quạnh quẽ ở trong lòng mà làm nên.
Những người Việt không nhà ở San Jose tôi vẫn thường nghe nói tới, cũng có đôi lần gặp gỡ họ trước một ngôi chợ, nơi tiệm ăn hay bên góc vắng của một công viên. Đôi khi tôi cũng giúp họ ít tiền nhưng thường là có một định kiến không tốt về họ: lười biếng, cờ bạc, hút sách... Nghe nói họ sống hai bên bờ của con lạch nhỏ chạy song song với đường Senter giữa hai quãng đường Story và Tuly nhưng không thể mường tượng ra họ sinh sống như thế nào.

 

Những căn lều của người vô gia cư


(Hình do tác giả cung cấp)


Nghe Tuấn nói mỗi sáng thứ 7 Tuấn và một số bạn có mang cà phê, thức ăn và quần áo tới thăm hỏi giúp đỡ những người không nhà, tôi bèn muốn được đi cùng, muốn được tới gần và hiểu rõ hơn về những cuộc đời không vui này, tại sao họ lại sống như vậy: vì hoàn cảnh, vì yếu đuối hay là một sự chọn lựa?
Nhóm chúng tôi tới thăm những mảnh đời lạnh buồn đó, mong được mang tới cho họ một chút xẻ chia, một chút tình người và một chút hơi ấm. Chúng tôi là những người may mắn được nhận lãnh những ơn phước của Thượng đế, đến thăm để trao lại cho họ một phần nào những điều mà mình đã nhận được.
Tôi tới nơi lúc 9 giờ sáng, sương lạnh vẫn còn thấp thoáng ở một vài chỗ. Trời mưa mấy bữa trước nên mặt đất vẫn còn ẩm ướt, rải rác ven theo con lạch nhỏ là những tấm lều, chắp vá bởi những tấm ny lông trắng, xanh, đen…, lẩn khuất sau màn sương mờ trông như một bức tranh thuỷ mạc. Quần áo, chăn màn, rác rưởi, đồ dùng cá nhân ... nằm vương vãi khắp nơi, một bức tranh thuỷ mặc của sự hoang tàn lặng lẽ và u buồn. Những trật tự của đời sống đã được thay bằng sự bừa bãi bất cần của những tâm hồn rách nát, nổi trôi, lạc lối...
Tôi chú ý đến một căn lều dựng bên gốc cây, trên trạc cây là một bàn thờ Thiên mầu đỏ trống không chẳng có gì trên đó. Bước lại gần hơn tôi thấy một người đàn ông nhỏ bé đang ngồi nghiêng nghiêng trong nắng viết một điều gì đó, tôi bước qua lại mấy lần nhưng không gây được sự chú ý của ông ta.



Anh Khải ngồi viết
(Anh Khải đang ngồi viết (giữa hình). Hình do tác giả cung cấp)


Lúc sau, quay lại thì thấy người đàn ông đang cho 2 con gà ăn trước lều. Ông ngẩng đầu lên mỉm cười, đuôi mắt nheo lại như một lời chào.
- Nuôi mấy con gà cũng vui.
- Chào anh, tôi là Châu,hồi nãy đi ngang qua tính chào anh nhưng thấy anh đang ngồi viết, anh viết gì mà thấy say sưa vậy? Ông nghiêng đầu mỉm cười:
- Tôi tên K, ồ có gì đâu, viết đủ thứ hết, nghĩ gì viết nấy.
- Anh có làm thơ không?
- Lúc trước có làm một chút.
- Tặng tôi một bài được không? K lắc đầu:
- Không còn nữa. Để bữa nào làm tặng anh một bài.
Khải vén tấm ny lông cửa lều lên rồi giơ tay mời:
- Anh vào nhà chơi.
Trong căn lều tối tăm, có 2 bậc cao thấp chính giữa là một cây gỗ nhỏ dùng làm cột chống, phía trên là một cái giường không biết làm bằng gì vì phủ đầy chăn mền và quần áo, phía dưới thấp hơn một chút là 1 cái ghế sô pha cũng phủ đầy chăn mềm. K ngồi lên chiếc giường và chỉ chiếc ghế sô pha nói:
- Anh ngồi chơi, giường đó của thằng Dũng hôm nay nó đi làm rồi.
Tôi ngồi lên giường và nghe những lời tâm sự của Khải:
- Tui qua đây một mình lúc 18 tuổi, năm 1978, bà già sợ nó bắt tui đi nghĩa vụ nên kêu đi . Qua đây quá tuổi không được học trung học nên vào học nghề tại Job Corp. ở Philadelphia. Mỹ đen nhiều và hay ăn hiếp người Á Châu, hôm đó tui bị một nhóm Mỹ đen vây đánh máu chảy tùm lum, tưởng chết, bèn vớ cái chai trên bàn đập vỡ ra rồi đâm nó một cái. Máu phun thành vòi, nó thấy máu mình thì hăng lắm nhưng khi thấy máu nó thì lại sợ và bỏ chạy. Kết quả là tui bị đuổi học, cứ ra ngồi ở trạm xe buýt mà tụi nó hay đi để đợi tụi nó ra thanh toán, nhưng không thấy đứa nào hết. Ngồi được mấy ngày thì tui mua vé xe buýt đi xuống Georgia, có thằng bạn dưới đó. Anh biết đó, tay đã nhúng chàm rồi nên cuộc đời đã là một sự an bài, cứ thế mà trôi theo dòng đời.
- Anh Khải có chơi không? (dùng drugs)
Anh nhìn tôi mỉm cười:
- Chắc chắn rồi, sống vì nó mà (sống bởi buôn bán nó). Lúc đầu bị bắt thì vài tháng, những lần sau cứ tăng dần lên, lần cuối tui bị 10 năm nhưng được 6 năm thì ra, ngồi trong đó 6 năm tui suy nghĩ nhiều. Tui thấy đời sống dính vào cái đó thì chỉ có sự dối trá mà thôi, mà dối trá là điều tui không thích nên tui quyết định không dính vào nữa. Lòng tui được bình yên nhiều. Ra đây cũng được mấy năm rồi.
- Không dính vào nữa nhưng anh vẫn không thoát được hoàn cảnh nầy?
Anh cười hiền nhìn vào mắt tôi khẽ nói:
- Tui thấy anh hiền và đáng mến nhưng anh không hiểu được đâu. Làm sao thay đổi được hả anh? Không sao đâu, cuộc đời mà, tui chẳng vui cũng không buồn.

Tuần sau trở lại ghé thăm anh nhưng không thấy, chỉ thấy Dũng người thanh niên ở chung lều với anh. Lần sau nữa ghé lại thì được tin mừng D. đã được nhận làm lại ở nhà hàng cũ. Lần khác thoáng thấy anh đâu đó, chưa kịp chào hỏi đã mất tăm. Tuần trước ghé lại thấy trước lều anh đồ đạc vứt vung vãi, hỏi ra thì biết rằng anh đã đi rồi, vẫn chưa kịp hỏi anh về cái bàn thờ không thần thánh. Có cuốn sổ lịch nằm lặng lẽ dưới góc lều, tôi cầm lên có một trang viết của anh với những giòng chữ rắn rỏi. Giòng đầu tiên anh viết: " Cám ơn những tấm lòng nhân hậu đã đến với chúng tôi ..." Tôi nghe lòng mình rưng rưng, hứa sẽ làm tặng anh bài thơ, bài thơ chưa xong mà anh đã đi mất rồi.

Ở nơi tận cùng của khổ đau
có một con người vẫn thiết tha.
Ở giữa những nghiệt ngã cắt lòng
vẫn lừng lững một tâm hồn tịnh không.
Sáng hôm nay rét lạnh trời mùa đông tôi và anh không chờ mà lại gặp ...
Đọa đầy không dập tắt môi anh nụ cười
đớn đau không làm tan đi niềm vui trong mắt.
Sáng run run trong sương mù lạnh ngắt …

Dũng qua đây theo diện con lai , da ngăm đen và bự con, hiền nhưng nói nhiều. Mẹ bỏ D. với bà ngoại ở Đà nẵng sau khi sinh. D. ở với ngoại đến năm 12 tuổi thì bỏ nhà đi, làm đủ thứ việc để sống. Lần hồi thì vào đến Sài gòn, nghe người ta chỉ nộp đơn vô Bộ Nội vụ rồi được đi. Qua đây có được việc làm tại một nhà hàng VN ở tiểu bang khác, làm được hơn 10 năm thì kinh tế xuống nên mất việc, người tình lừa gạt lấy hết tiền rồi bỏ đi. Trôi dạt đây đó về đến SJ đã gần 5 năm rồi. D. ở đây lâu lâu cũng được người ta gọi đi làm thợ phụ xây dựng. Cách đây 2 tuần, D. gọi hỏi thăm chủ cũ thì họ kêu D. về làm lại cho họ. Lần cuối gặp D. vui mừng kể chuyện huyên thuyên và nói với anh Phong (người khởi đầu công việc thăm viếng nầy): "Chiều nay anh cho em về nhà anh gọi điện thoại, nếu có vé xe đò anh chở em ra bến xe dùm, ông chủ nói sẽ mua vé xe đò cho em nhưng em gọi lại cho ông chiều nay mới biết”. Em đã lên xe đò, đã được nhận vào làm việc lại, tôi thật vui cho em và mong cho em gặp được nhiều may mắn. Và như đã hứa với em, tôi vẫn thường nhớ cầu nguyện cho em.
Anh Thành người cao lớn, đen đủi. Cách nói chuyện của anh với những người đồng cảnh ngộ thể hiện anh là một người có bản lĩnh, có lần khi chúng tôi ngồi nói chuyện, một người anh em tâm sự tuần trước đi làm cho ông X. mà vẫn chưa được trả tiền, T. vung tay nói:
- Chiều nay đi với tao lên gặp ổng.
Anh kể rằng đã lăn lộn ở Phi hơn 20 năm rồi được Trịnh Hội bảo lãnh qua đây, đi làm cho body shop được 6 tháng thì hết việc về sống ở đây đã được gần 4 năm rồi. Hỏi về chuyện người thân, anh cho biết có vợ và hai con còn ở VN dưới miền Tây, đứa con gái lớn 26 tuổi đang làm y tá, đứa nhỏ đang học đại học. Hỏi anh có liên lạc với vợ con không, anh nhìn xa xăm nước mắt rưng rưng nói :
- Lâu lâu có tiền gọi về nhưng không biết nói sao về hoàn cảnh của mình với vợ con.



Di Châu và anh Thành
(Hình chụp với anh Thành. Hình do tác giả cung cấp)


Tôi yên lặng đặt tay lên vai anh như một chia xẻ cảm thông. Một con người gai góc dạn dầy như thế nhưng bên trong là bao yếu mền che dấu. Những giọt nước mắt cho những thân yêu mà anh đã muôn trùng xa cách, cho những hoài bão mà anh đã ôm ấp khi ra đi bỏ lại sau lưng quê hương với muôn vàn thương quý. Rồi cuộc đời sẽ đưa anh về đâu, rồi có một ngày nào anh sẽ gặp lại nhưng người anh thương nhớ?
Một buổi sáng tôi cùng Tuấn đi tới từng căn lều kêu họ xuống ăn sáng và uống cà phê, bỗng thấy thấp thoáng trong đám cỏ cao trên triền dốc bóng dáng một cô gái.

Hiền đang lượm đồ

(Hiền đang đi lượm đồ. Hình do tác giả cung cấp)


Tuấn kêu to:
- Hiền hả, xuống ăn và uống nước nhe.
Tuấn quay qua nói :
- H. là cô giáo dạy middle school ở dưới miền Nam CA không biết tại sao lại lưu lạc đến đây. Lần đầu em gặp, trời lạnh ngắt mà H. cởi trần mặc quần ngắn đi lang thang, mọi người khuyên mãi H. mới chịu lấy đồ mặc vô. Giỏi lắm đó nhe, nói được 4 thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Mễ và tiếng Pháp nữa. Tới gần thì thấy H. là một cô gái rất trẻ và thật là gầy guộc, đội nón ấm mặc chiếc áo lạnh mỏng và chiếc quần đùi Jean. Đôi chân em gầy lắm gầy đến không thể gầy hơn được nữa và được bọc bằng lớp da khô khốc, mốc meo. Tôi nhìn em mà thương quá, mà chẳng biết làm sao. H. vừa đi dọc theo sườn dốc vừa lượm những món đồ nho nhỏ nhiều mầu mà những người đồng cảnh ngộ đã vứt đi. Tuấn hỏi:
- H. lượm mấy cái nầy về làm chi vậy?
H. ngẩng mặt lên cười:
- Về chơi.
- Một lát xuống ăn sáng và uống nước nghe, hôm nay có bánh mì ốp la nóng đó.
H. nói "Dạ" rồi lại thơ thẩn bước đi giữa đám cỏ cao. Khoảng hơn 1 tiếng sau mới thấy H. tới. Chưa kịp ăn uống gì nhưng nghe nói anh K. đã dọn đi, H. bèn chạy qua lều của anh K. Một lúc sau, tôi tới thì thấy H. vẫn còn đang ngồi lục lọi, để bên cạnh những món đồ H. thích và vứt tung những món đồ H. không muốn. Tôi hỏi:
- H. ở dưới nam Cali lên đây hả?
- Dạ.
- Cháu có gia đình dưới đó không?
H. không trả lời mà vẫn say sưa lục đồ, tôi phải hỏi lại lần nữa. H' trả lời cụt ngủn:
- Có.
- Gia đình có biết H. ở đây không?
- Không biết.
H. cộc lốc trả lời và ném mạnh một món đồ dưới chân tôi. Tôi hiểu tôi đã chạm đến niềm đau sâu kín của em nên tôi im lặng rút lui. Vì sao mà em lại lâm vào cảnh ngộ nầy, vì sao mà đời em lại khổ đến như thế? Cứ mỗi lần nghĩ đến thân hình gầy guộc trần truồng của em phơi bầy giữa đất trời lạnh giá của mùa Đông là lòng tôi lại quặn thắt vì thương em. Thương em mà chẳng biết sẽ làm được gì cho em. Em chỉ ở độ tuổi của con của cháu tôi, độ tuổi để được nâng niu chìu chuộng để được thương yêu vỗ về. Vì sao mà nên nỗi nầy người con gái VN của tôi ơi, ba mẹ của em đâu, những người thương yêu của em đâu?

Một buổi sáng khác tôi tới thì thấy một thanh niên đang đứng bên bờ lạch giang tay ngửa mặt lên trời trông như 1 cây thập giá , một lúc sau thì lấy thuốc lá ra hút, một tay ôm gốc cây một tay hút thuốc nhưng vẫn nhìn mãi lên trời. Đang cùng các anh em lau chùi bàn ghế để sắp đồ ăn, cà phê, chén dĩa và ly lên thì anh chàng đi tới. Anh chàng ăn mặc gọn gàng trên ngực đeo một cái ba lô nhỏ và tay thì cầm một hộp gỗ mầu nâu đen. Tôi giơ tay chào rồi hỏi:
- You want some coffee?
- I don't drink coffee.
- Something to eat?
- No, I am OK.
Thấy lạ, tôi ngừng tay quay qua nói chuyện. Anh chàng nói rất nhanh nên tôi không hiểu kịp phải hỏi lại nhiều lần, anh chàng bèn bắt qua nói tiếng Việt. Anh chàng tên Ân. Ân kể rằng ông ngoại Ân là một đại điền chủ giầu có ở Đà nẵng, bây giờ vẫn còn rất nhiều đất đai ở đó do 2 người cậu trông coi. Ông ngoại là thần tượng của Ân, ông ngoại mất khi Ân đang học high school. Đang là 1 học sinh xuất sắc toàn điểm A với đầy đủ cầm kỳ thi hoạ (lời của Ân), Ân bỏ học rồi đi bụi đời từ đó đến giờ.
Cái hộp Ân cầm trên tay bên trong là 1 quyển Kinh Thánh rất lớn, đã bạc mầu nhưng vẫn còn tốt lắm. Nói chuyện thì thấy rằng Ân có rất nhiều kiến thức về khoa học cũng như Kinh Thánh. Khi nói chuyện Ân thường đưa ra những câu hỏi mà mọi người không trả lời được. Hỏi Ân nhìn lên trời để tìm kiếm cái gì? Không trả lời, Ân chỉ nói em có một khải tượng (vision) nhưng không nói rõ khải tượng đó là gì.
Mẹ Ân mất khi em còn rất nhỏ, em được ông bà ngoại nuôi dưỡng và đưa qua đây. Ân nói bà ngoại và ba vẫn ở tại San Jose. Tôi hỏi Ân có về thăm không. Ân lắc đầu, tôi hỏi sao vậy? Ân nói em phải làm một cái gì rồi mới về. Tôi khen tiếng Việt của Ân giỏi quá. Ân cười nói. Ân có thể nói đủ thứ hết, rồi em nói giọng Bắc, giọng Đã nẵng, giọng Huế ... Ân bỗng đứng dậy nói có việc phải đi rồi giơ tay chào.
Nhìn bóng dáng Ân xa dần, tôi nghe lòng tiếc nuối một điều gì đó, tiếc nuối cho một con người tài hoa nhưng lạc lõng, cô đơn và không có 1 lối thoát cho cuộc đời mình.
Thập giá của Chúa Giê xu là 1 câu trả lời, là 1 con đường cho những ai đang sống trong lầm lạc. Là nơi mà sự oán thù, tội lỗi, vô vọng và bất an đã được đóng đinh và chôn chặt, là nơi đã mang con người về với Thượng đế về với yêu thương, bình an và hy vọng.
Ân đứng đó dang tay như một cây thập giá, ngước mặt nhìn trời như một tìm kiếm vô vọng. Thập giá của Ân là 1 câu hỏi, 1 câu hỏi mà lòng tổn thương mất mát và tâm hồn cao ngạo đã ngăn em tìm được 1 câu trả lời. Tôi cầu nguyện cho em có thể quên đi sự tổn thương mất mát và sự kiêu hãnh để lòng em có thể tìm được sự bình an và em có thể quay về với tình yêu của Thượng đế và những người thân yêu của mình.
Hôm thứ 7 trước ngày Tết, chúng tôi tới nơi thì thấy 1 bác gái lớn tuổi và 1 anh trung niên mang xuống thật nhiều bánh chưng và giò lụa nhờ chúng tôi chuyển tới cho những người không nhà. Bác nói thấy chúng tôi làm việc nầy cảm động lắm và muốn góp 1 bàn tay cùng chúng tôi. Tuần sau nữa, hai chị Hạnh và Ngọc mang xuống cho chúng tôi bánh mì chả lụa, 2 két nước lọc và 1 thùng chuối. Chị nói nhà ở gần đây thấy những người nầy muốn giúp đỡ một chút. Tôi cũng nghe nói cô Xuân Hồng của nhà hàng Nha Trang có gửi tặng 60 phần ăn qua nhóm của chị Hương, Linh và cô Phương. Thứ 7 vừa rồi, chị Kim đưa $40 để góp phần mua thức ăn và cà phê. Cảm ơn những tấm lòng và sự quan tâm của tất cả. Chúng ta không làm được gì lớn lao, mong sao những điều chúng ta làm mang được một chút ấm áp của tình người cho những cảnh đời bất hạnh nầy.
Hôm rồi được tin chú Hoài An, 1 cựu quân nhân đã qua đời trong căn lều của mình bên bờ lạch nhỏ. Được biết các chú trong hội cựu quân nhân đã cùng nhau lo việc tang tế cho chú. Tấm lòng của những người chiến hữu chắc đã mang lại nhiều an ủi cho linh hồn chú. Chú đã ra đi bỏ lại sau lưng mình những tháng ngày đơn lạnh, bỏ lại căn lều chú đã nương mình trong những ngày cuối đời.
Khải và Dũng bây giờ về đâu? Căn lều hai bậc của Khải và Dũng bây giờ chỉ còn ngổn ngang những đống tro tàn đen xám, ai đó đã đốt rụi căn lều. Giữa đống tro tàn là cái bàn thờ đã không còn hình dạng. Thời gian rồi sẽ mang theo nó những cảnh đời không vui. Đi đâu? Về đâu? Lênh đênh trôi mãi, biết có bao giờ tìm được cho mình một bến bờ?

Di Châu k8 03/2013

[Trở lại trang trước]

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates