Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Giáo Dục Tổng Hợp

(Trần Nam Bình k2 biên soạn)

Giáo dục tổng hợp (GDTH) có thể xem là một đặc diểm chính của trường Trung Học KMTĐ. Trước khi định nghĩa GDTH chúng ta cần làm sáng tỏ sự liên hệ giữa hai từ trung học tổng hợp và comprehensive high school. Theo rất nhiều nhà giáo dục, ví dụ như Giáo sư Nguyễn Trung Quân (2000, trang 190), trung học tổng hợp tiếng Anh là comprehensive high school. Điều này đúng theo nghĩa chương trình giáo dục của các trường trung học tổng hợp rất gần với chương trình giáo dục của các comprehensive high schools tại các nước nói tiếng Anh lúc bấy giờ. Tuy nhiên, lối dịch này không hoàn toàn chính xác vì thật ra comprehensive high school là một trường trung học công lập không thi tuyển (tức là một trường áp dụng triết lý giáo dục đại chúng), trong khi các trường công tại miền Nam thời đó (kể cả các trường Kiểu Mẫu và tổng hợp sau này) là các trường công lập thi tuyển dựa trên học lực của thí sinh.

Là một ý niệm có nhiều chiều kích khác nhau, GDTH không thể định nghĩa một cách dễ dàng và đơn giản. Trong trang này, chúng tôi xin trình bày ba lối định nghĩa GDTH như sau. Cách định nghĩa thứ nhất, có tính cách lịch sử, do chúng tôi nghe chính Giáo sư Dương Thiệu Tống kể. Trước khi về làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường KMTĐ, Thầy Tống đã du học bên Anh. Tại đây, Thầy nhận thấy rằng grammar schools là những trường dành cho con cháu giới thượng lưu còn technical schools là những trường cho giới bình dân. Như vậy, theo lời Thầy, GDTH có thể xem là gạch nối giữa giáo dục grammar và giáo dục technical, con cháu mọi giới đều có thể học được (xem Dương Thiệu Tống 2006a, trang 19).

Cách thứ hai là định nghĩa GDTH bằng các thành phần chính yếu của hệ thống giáo dục này. Theo đó, GDTH có thể xem như là một nền giáo dục trung học với tất cả các nhân tố không thể thiếu sau đây:

  • cơ sở vật chất tân tiến và quy chế tổ chức hiệu quả;
  • giáo sư giỏi, trình độ chuyên môn cao, cập nhật, nhiều kinh nghiệm;
  • học sinh có động lực học tập cao;
  • các bộ môn hướng học và hướng nghiệp (như Canh nông, Doanh thương, Công Kỹ Nghệ (CKN) và Kinh tế Gia đình (KTGĐ)) thích nghi và thực dụng;
  • lối giảng dạy toàn diện nhấn mạnh thuyết trình, thảo luận, sưu tầm, thực nghiệm, du khảo; khảo sát trắc nghiệm; thi cử xếp hạng theo phương pháp thống kê;
  • lối học hiểu, tự tra cứu, làm việc chung; lối suy nghĩ độc lập, phê phán, sáng tạo;
  • sinh hoạt hiệu đoàn và hướng dẫn cá nhân, cấp, khải đạo toàn diện.

Cách thứ ba là định nghĩa GDTH bằng các mục tiêu của phương pháp giáo dục này. Theo cách nhìn này, GDTH là giáo dục trung học với ba chủ đích:

  • thực hiện giáo dục tổng quát cho mọi học sinh hầu học sinh có thể trở thành công dân tốt, hữu dụng khi ra đời;
  • thực hiện giáo dục hướng nghiệp giúp cho một số học sinh có cơ hội phát triển năng khiếu cá nhân, tài khéo thực dụng để có thể chuẩn bị nghề nghiệp khi không thể tiếp tục học lên cao;
  • thực hiện giáo dục hướng học giúp cho một số học sinh chuẩn bị cho con đường hậu trung học trong cũng như ngoài nước.

Như thế, GDTH có thể xem là sự kết hợp hài hoà của giáo dục phổ thông và kỹ thuật chuyên nghiệp (xem ĐHSP Sài Gòn 1971, trang 11).

Nói tóm lại, mục đích của GDTH không phải là đào tạo những học sinh giỏi lý thuyết giáo khoa mà là sản xuất những công dân tốt với kiến thức tổng quát đúng mức cũng như tài khéo thực dụng, có đầu óc tháo vát, vả biết thích nghi trong mọi hoàn cảnh. Điều đáng lưu ý là tuy các trường Kiểu Mẫu có cùng nguồn gốc và cùng áp dụng GDTH, nhưng mức độ “tổng hợp” hay “kiểu mẫu” tuỳ vào triết lý, mục tiêu và điều kiện riêng của từng trường. Theo Giáo sư Dương Thiệu Tống (2006b) thì mô hình GDTH KMTĐ không hiện hữu tại bất cứ trường khác, kể cả ở Kiểu Mẫu Huế hay các trường tổng hợp sau này. Thầy Tống đã từng nhấn mạnh Trường Trung học KMTĐ không phải là “một mô hình giáo dục của riêng một nước nào trên thế giới ... Nó là sự kết tinh của nhiều nền giáo dục trên thế giới …” (Dương Thiệu Tống 2006a, trang 19). Trên thực tế thì ảnh hưởng của mô hình trung học Mỹ, qua PĐCV Ohio, vẫn là mạnh hơn cả.

Như nói bên trên, một đặc điểm đáng kể nhất cuả GDTH KMTĐ là các bộ môn có tính cách hướng nghiệp như Canh Nông, Doanh Thương, Công Kỹ Nghệ (CKN) và Kinh Tế Gia Đình (KTGD) trong bậc đệ nhất cấp. Lên bậc đệ nhị cấp, học sinh vẫn có thể theo đuổi ngành Doanh Thương (D1 hay D2) hay CKN (K1 hay K2). Những môn học này giúp học sinh có cơ hội phát triển năng khiếu thực dụng, để có thể thích ứng vào đời khi không thể tiếp tục học lên cao. Phát triển giáo trình Canh Nông, Doanh Thương, CKN và KTGĐ thích hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ là những công tình rất đáng kể cuả một số giáo sư Trường Trung học KMTĐ.

Nhân dịp này, cũng nên cải chính một số hiểu lầm về các bộ môn hướng nghiệp tại KMTĐ. Ngay từ đầu, một số bài viết chính thức đã nhắc tới các môn này như các môn dậy nghề (xem, ví dụ như, Thế Giới Tự Do 1972, trang 26). Hướng nghiệp có nhiều điểm tương tự nhưng không đồng nghĩa dậy nghề (hay huấn nghiệp). Liên hệ giữa hướng nghiệp và dậy nghề cũng giống như liên hệ giữa giáo dục và huấn luyện (hiện nay gọi là đào tạo). Giáo dục hướng nghiệp cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng tổng quát, vừa lý thuyết lẫn thực hành, giúp cho học sinh phát triển năng khiếu, tài khéo cá nhân và khả năng giải quyết vấn đề hầu chuẩn bị học sinh cho việc làm trong tương lai. Huấn luyện dậy nghề cung cấp cho học sinh các hiểu biết và kỹ năng chuyên biệt, cụ thể, thường là thực dụng, có liên quan trực tiếp đến các nghề nghiệp chuyên môn mà học sinh sắp làm.

Ngay cả các trường tổng hợp cũng có ấn tượng sai về các môn hướng nghiệp. Thí dụ như Trường Nữ Trung học Tổng hợp Sương Nguyệt Anh (SNA) giải thích “Kinh tế Gia đình tức là nữ công gia chính, may vá nấu ăn” (xem Trường Nữ Trung học Tổng hợp SNA 2005). Chúng ta nên biết KTGĐ là một bộ môn có mục đích và chương trình phổ quát hơn như thế rất nhiều. Thí dụ như nấu ăn thật ra là những bài học về thực phẩm và dinh dưỡng. Nói chung, môn KTGĐ giúp nữ sinh “góp phần duy trì những cái hay, cái đẹp của gia đình Đông phương, những giá trị căn bản của nền tảng gia đình Việt Nam; đồng thời thích nghi với những thay đổi, những thử thách của xã hội mới cũng như những tiến bộ về khoa học kỹ thuật ngõ hầu phục vụ gia đình hữu hiệu hơn (xem Huỳnh Thị Bạch Tuyết và Dương Thị Kim Sơn 2005).

Cách đây hơn 10 năm, qua một số điện thư, Thầy Trần Cẩm Hồng đã trình bầy quan điểm của Thầy về bộ môn CKN như sau (xem Trần Cẩm Hồng 2000):

  • CKN (Industrial Arts) tại các nước Tây phương là một môn học phổ thông chứ không phải hướng nghiệp như rất nhiều người lầm tưởng;
  • Môn CKN không giống như chương trình các trường kỹ thuật chuyên nghiệp thời đó;
  • Ba mục tiêu chính của CKN là óc sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và sản xuất hàng loạt.

Chương trình CKN đệ nhất và nhị cấp tại KMTĐ đã được Thầy Hồng phát triển dựa trên các nguyên tắc trên.

Bộ môn Doanh Thương cũng không chỉ đơn thuần là “kế toán đánh máy” như Trường Nữ Trung học Tổng hợp SNA giải thích. Chương trình Doanh Thương tại KMTĐ gồm có các môn như Doanh Thương Tổng Quát, Đánh Máy chữ, Kế Toán và Kinh Tế Nhập Môn. Những môn này gồm những bài học nhập môn chỉ cốt chuyển đạt đến học sinh những lý thuyết và kỹ năng sơ đẳng để khi bước vào đời họ có cơ may tự tìm tòi, học hỏi thêm. Chương trình Doanh Thương KMTĐ đã được mô tả khá đầy đủ với nhiều chi tiết cụ thể trước đây (xem Phan Thanh Hoài 2002, trang 38–43).

 

Tài liệu Tham khảo

  • Dương Thiệu Tống (2006a), “Nhớ lại thuở ban đầu”, Đặc San Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức, Quận Cam, trang 18–20.
  • Huỳnh Thị Bạch Tuyết và Dương Thị Kim Sơn (2005), “Môn Kinh Tế Gia Đình”, Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức, <http://www.kieumau.org/thkmtd/html/ktgd/monktgd.htm>, truy cập ngày 20/10/2005.
  • Phan Thanh Hoài (2002), “Doanh Thương”, 30 Năm Tìm Về 1972–2002 Đặc San Kỷ Niệm, Khoá 2 Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức, trang 38–43.

 Xem thêm tài liệu về giáo dục tổng hợp: Chương Trình Trung Học Tổng Hợp - Đệ Nhị Cấp 1972.

[Trở Lại Trang Trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates