Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Chương Trình Doanh Thương

CÁC MÔN DOANH THƯƠNG ĐƯỢC DẠY TẠI CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC KIỂU MẪU VÀ TRUNG HỌC TỔNG HỢP

Ở VIỆT NAM VÀO HAI THẬP NIÊN 1960 VÀ 1970

Gs. Phan Thanh Hoài

Ngành Doanh Thương dạy ở bậc trung học gồm có những bài học nhập môn, cho nên về mặt kiến thức chỉ cốt chuyển đạt đến các em học sinh những lý thuyết và năng khiếu sơ đẳng, cùng với những đức tính, những cách cư xử khéo léo, một tâm hồn phóng khoáng và cởi mở để đến khi các em bước vào cuộc sống phức tạp ở ngoài đời, thì các em sẽ có nhiều cơ may tự tìm tòi, học hỏi thêm những kiến thức sâu sắc hơn những gì mình đã học được ở bậc trung học trước đây.

Các môn học Doanh Thương được dạy tại các trường THKM và TH tổng hợp ở Việt Nam vào những năm 60 và 70 gồm có (từ dễ đến khó): Doanh Thương Tổng Quát, Ðánh Máy Chữ, Thể Thức Văn Phòng, Kế Toán và Kinh Tế Học. Tôi xin nói đến chương trình của từng môn học này ở những phần sau đây:

MÔN DOANH THƯƠNG TỔNG QUÁT

Khi giảng dạy môn Doanh Thương Tổng Quát, và với chiều hướng là các em sẽ có dip học hỏi nhiều hơn ở ngoài xã hội (hậu học đường) để đạt được những kiến thức, những hiểu biết đầy đủ và sâu rộng hơn những gì mà các em được dạy dỗ ở trường, cho nên chúng tôi chỉ giảng dạy các em học sinh những hiểu biết căn bản, những dịch vụ thông thường trong đời sống hàng ngày, như quản lý ngân quỹ cá nhân một cách khôn ngoan, biết tiết kiệm khi đi mua sắm cho bản thân hay cho gia đình, biết sử dụng những dịch vụ: chuyên chở công cộng, bưu điện, điện thoại và liên lạc viễn thông, thư viện, ngân hàng khi cần đến, v.v... Nhưng khi giảng dạy môn học này chúng tôi chú trọng nhiều đến vấn đề là làm thế nào để tạo nơi các em học sinh vui trẻ và hồn nhiên của ngày hôm nay, nhưng cũng là những công dân tốt, biết tư trọng, biết suy nghĩ cẩn thận và hành động đúng đắn của ngày mai, những đức tính cả nhân cần thiết, những nếp Sống lịch thiệp và một trí tuệ cởi mở để sẵn sàng tiếp thu những năng khiếu mới, những kỹ thuật tiên tiến, những tri thức cao siêu hơn trong một nền kinh tế, một xã hội biến đổi không ngừng, và để nâng cao trình độ dân trí trong một xã hội còn nhiều tập quán cổ xưa cần được thay đổi để phù hợp với lối sống văn minh hiện nay.

MÔN ĐÁNH MÁY CHỮ

Kế đến, môn Đảnh Máy Chữ có mục đích chỉ dạy các em học sinh những kỹ năng và phương pháp chính xác khi sử dụng bàn máy chữ. Chúng ta có nhiều dịp phải vào các văn phòng hành chánh, các cơ quan công quyền và đã được dịp nhìn thấy các cô thư ký đánh máy biểu diễn phương pháp "gà mổ”, chỉ sử dụng hai ngón tay trỏ hơi cong lại như mỏ gà rồi mổ xuống nút chữ như cô gà mái mổ vào sàng thóc dưới đất. Thậm chí có khi họ chỉ đùng đầu cây bút chì, nơi có gắn cục tẩy để đập vào nút chữ thay vì phải dùng ngón tay có móng dài như bút măng xinh đẹp của các cô; và nếu có người, với giọng nói nửa cười nửa cợt, hỏi rằng tại sao cô lại dùng bút chì thay vì dùng các đầu ngón tay thì được các cô trả lời như sau: chúng tôi phải ngồi đảnh máy suốt ngày cực nhọc thế nầy, nếu không sử dụng bút chì thì còn gì những ngón tay xinh đẹp của chúng tôi, ngoài ra về lâu về dài, tất cả chúng tôi sẽ bị đau tim hết. Về việc đánh máy chữ có hại gì cho hệ thần kinh và cho quả tim của người thư ký đánh máy hay không, việc này chúng tôi xin nhường lời cho các chuyên viên bên ngành y tế phán quyết. Ở đây chúng tôi cho rằng nếu các vị thư ký đánh máy được chỉ dạy đúng phương pháp, tức là sử dụng tất cả mười ngón tay trong khi đánh máy, thì sức mạnh đập vào máy chữ sẽ chia đều cho mười đầu ngón tay thay vì chỉ tập trung vào hai ngón trỏ mà thôi. Thế thì nghề thư ký đánh máy không có gì đáng ngại cho sức khoẻ thể xác hoặc tâm thần cho giới lao động phục vụ trong ngành này.

Các trường Trung Học Kiểu Mẫu và Trung Học Tổng Hợp, ngay năm đầu mà môn đánh máy chữ được giảng dạy, tất cả đều được trang bị với loại máy có bàn chữ Việt với đủ các chữ: ă, â, ơ, ư, các dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Có thể đó là những bàn máy chữ được Việt hóa lần đầu tiên, được sản xuất từ Âu Mỹ và được đưa vào sử dụng tại Việt Nam. Các máy chữ này do nhà sản xuất Royal ở Hoa Kỳ chế tạo với sự hướng dẫn về mặt chuyên môn của đoàn cố vấn trường Ðại học Ohio và sự tài trợ của cơ quan viện trợ Hoa-Kỳ, tại Viêt Nam (USAID). Sau đó ít lâu, nhà sản xuất Remington, cũng ở Hoa Kỳ, cũng có nhập vào thị trường Viêt Nam loại máy chữ Việt hóa này nhưng nét chữ, nhất là các dấu, không đẹp và sắc sảo bằng bàn máy chữ hiệu Royal. Ðể đạt được mục tiêu đặt ra cho khóa học kéo dài bốn tháng, mỗi tuần học ba giờ , vị chi là sau 50 giờ, các học sinh phải đánh được tốc độ 20-25 chữ /1phút, chúng tôi phải hoàn tất những giai đoạn huấn luyện sau:

1.Tập cho các em hoc sinh cách thức để đặt môt cách chính xác các ngón tay vào vị trí của hàng nút chữ căn bản khi khởi đầu bài học. Hàng nút chữ căn bản (home row) là hàng chữ thứ nhì từ dưới đếm lên. Hàng thứ tư, tức hàng trên cùng là hàng chữ số và các dấu tiếng Việt. Các đầu ngón tay, mỗi khi không cử động, luôn luôn được đặt vào hàng nút chữ căn bản. Từ đó, các ngón tay được đưa lên trên để đánh các nút chữ ở hàng thứ ba và hàng thứ tư ở trên cùng, hoặc ngược lại được đưa xuống bên dưới để đánh các nút ở hàng thứ nhất. Các em được chỉ dạy để có thể đưa các ngón tay vào đúng nút chữ mà không phải nhìn vào bàn máy, giống như khi sử dụng bàn toán có 10 nút chữ số (ten-key calculating machine) mà hiện nay chúng ta còn thấy được dùng trên thương trường.

2. Giai đoạn kế tiếp là phåi cố gắng làm thế nào cho các em giữ được thói quen dán mắt vào bản giấy nháp và không được nhìn vào bàn chữ trong khi các ngón tay đánh liên tục không ngừng vào các nút chữ cần đánh. Tránh được sự di chuyển đôi mắt từ bản nháp qua bàn máy chữ và ngược lại, để rồi phải tìm lại hàng chữ đang đánh dang dở sẽ tiết kiệm rất nhiều thời giờ, và đây là điều tối quan trọng nâng cao tốc độ đánh máy của các em hoc sinh.

3. Sau hết, khi các em học sinh đã tạo được cho mình những thói quen tốt nói trên, chúng tôi phát cho các em những bài tập đánh tốc độ trong 2 phút để các em có khả năng tăng tốc độ cá nhân càng ngày càng lên cao hơn. Có những em đã đưa tốc độ của mình từ 15 chữ 1 phút lên đến 18 chữ, 20 chữ, 22 chữ rồi 24 chữ/1 phút. Chúng tôi và các em rất hài lòng vói những kết quả đạt được sau mỗi khóa, và các em thường lưu giữ những bản đánh tốc độ để làm kỷ niệm về những thành tựu của mình.

MÔN THỂ THỨC VĂN PHÒNG

Môn học này có mục đích huấn luyện các em, nhất là các em nữ sinh trở thành những thư ký văn phòng, thư ký đánh máy để có khả năng vào làm việc tại các cơ quan nhà nước, các xí nghiệp, thương nghiệp tư doanh. Ðiều kiện cần có (prerequisite) là đã học qua môn Ðánh Máy Chữ và đạt được tốc độ trên 20 chữ /1 phút như đã được dạy và trình bày ở phần trên. Lẽ dĩ nhiên là các em sẽ được dạy nhiều về bàn máy chữ tăng tốc độ lên mức cao hơn, 35 đến 45 chữ/1 phút, dạy về thể thức đánh máy với nhiều bản có lót giấy than (carbon paper) ở giữa, và sau đó là cách thức tẩy xóa các chữ đánh sai trên bản chính và bản phụ. Các em cũng được dạy phương pháp trình bày môt bức thư dưới nhiều dạng khác nhau (Style: Block, Semi Block, Indented) cũng như trình bày một bức thư khả dĩ gửi đi được (mailable letter, tức là trong bức thư không được hơn ba chữ đánh sai và đã được sửa lại). Kế tiếp, các em được chỉ dạy cách đánh máy trên giấy sáp và dùng mực tẩy (liquid correcror) để sửa các chữ đánh sai, cách dùng bút sắt (stenciller) để tạo ra tờ giấy sáp có nhiều kiểu chữ hay hình ảnh mà máy đánh chữ không thực hiện được, cách thức sử dụng máy quay ronéo để từ bản giấy sáp in ra được hàng chục, hàng trăm bản tùy theo nhu cầu cấp thời. Hiện nay các loại máy vi tính tân tiến và các loại máy photocopy hiện đại đã biến các loại máy đánh chữ, máy quay ronéo thành những món đồ cổ (antiques), nhưng những kiến thức mà các thầy cô đã truyền đạt cho các em vẫn còn hữu dụng như xưa. Ví dụ như phương pháp đánh máy sử dụng mười ngón tay vẫn còn cần đến khi các em dùng bàn chữ (keyboard) để đánh lên màn hình những dữ kiện (data input) để rồi bộ óc của máy vi tính (processor) dùng các dữ kiện này để phân loại, biến đổi, kết hợp, và đưa ra những kết quả yêu cầu (data outPut); và chiếc máy in nhỏ nhắn (Printer) được gắn liền vào máy vi tính cũng nhỏ bé không kém, sẽ thay thế cho cái máy in ronéo kềnh càng và cổ lổ sĩ, để in ra hàng chuc, hàng trăm bản theo nhu cầu của cơ quan; hơn thế nữa, nhiều máy in có khả năng in ra bản tài liệu với đủ loại màu sắc tươi đẹp khác nhau; chúng tôi còn nhớ những loại máy vi tính thuộc thế hệ đầu tiên (thâp niên 50 và 60) to lớn hơn cả những tủ lạnh cỡ lớn nhất hiện nay, và khi đưa những dữ kiện vào (data input), chúng tôi phải dùng những tờ giấy bìa cứng, khổ 4"x 8", được đục lỗ (perforated cardboard), tùy theo loại dữ kiện dựa vào và đúng theo quy cách mà máy vi tính này đòi hỏi. Ngoài hai loại máy thường dùng trong văn phòng nói trên, các em còn được dạy cách sử dụng máy điện thoại để giao tiếp với các đơn vị bạn ở bên ngoài. Các em cũng được chỉ dạy những ngôn từ khi dùng điện thoại, cách ăn nói thanh lịch và vui vẻ để người đối thoai ở đầu dây bên kia được hài lòng với cơ quan hay công ty mà họ đang tiếp xúc. Các em cũng được chỉ dạy về vai trò khá quan trọng của người thư ký tiếp tân (receptionist), việc làm, cách nói chuyện của người này, để làm thế nào cho "vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi". Sau đó các em còn được chỉ dạy về việc tổ chức môt hệ thống lưu trữ hồ sơ, thư từ gởi đi và thư từ đến một cách ngăn nắp và khoa học để khi cần đến sau này, các em có thể lấy ra ngay trong vài giây phút. Ngoài ra các em còn được chỉ dẫn sơ lược về việc giữ sổ sách kế toán cho văn phòng của mình, việc sử dụng tập chi phiếu dịch vụ ngân hàng để thanh toán những khoản chi trả hàng ngày.

Vì chương trình học khá bề bộn, nên chương trình học này thường được dạy trong hai học kỳ nối tiếp nhau: Thể Thức Văn Phòng I và Thể Thức Văn Phòng II.

MÔN KẾ TOÁN

Khi giảng dạy môn kế toán, chúng tôi, vì những giới hạn về thời gian, chỉ có thể truyền đạt đến các em học sinh những kiến thức sơ yếu nhưng rất cần thiết để có thể giữ sổ sách cho một thương nghiệp nhỏ, với hy vọng là khi các em có được một ít vốn liếng căn bản, các em sẽ thu thập thêm những khả năng chuyên ngành khi các em lên học ở những cấp lớp trên. Những hiểu biêt căn bản đó là:

1. Thế nào là kế toán đơn và thế nào là kế toán kép.

2.Tại sao phải dùng kế toán kép trong thương nghiệp.

3. Sổ trương mục Tổng hợp (General ledger) và các trương mục hình chữ T với hai bên Tá ghi và Thải ghi (Debit/Credit).

4. Phân loại các trương mục: các trương mục Tài Sản Có, các trương mục Tài Sản Nợ, các trương mục Vốn, các trương mục Lợi Tức, các trương mục Chi Phí, và một trương mục cá biêt, trương mục Tổng Kết Lãi Lỗ (Profit and Loss Summary).

5. Các sổ nhật ký: Tổng Quát, Mua Hàng, Bán Hàng, v.v...

6. Cách thức ghi chép các nghiệp vụ mua bán, thu chi vào các sổ nhật ký.

7. Cách chuyển các bút tích từ sổ Nhật Ký qua sổ trương mục Tổng hợp.

8. Chu kỳ kế toán: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, hay 12 tháng (niên độ).

9. Bút tích kế toán cần ghi vào đầu và cuối chu kỳ; bút tích điều chỉnh vào cuối chu kỳ.

10. Công thức kế toán căn bản dùng để lập Bảng Liệt Kê Tàì Sản vào cuối chu kỳ kế toán:

Tài Sản Có = Tài Sản Nợ + Vốn Ðầu Tư (Assets = Liabilities + Capital). Và từ công thức căn bản này, chúng ta tìm ra hai đẳng thức khác:

TSN=TSC-VDT và VDT=TSC-TSN.

11. Kết toán các trương mục hình chữ T trong sổ trương mục Tổng hợp và dùng kết số từ những trương mục Lợi Tức và Chi Phí để lập Bảng Lãi Lỗ (Income Statement) vào cuối chu kỳ kế toán hay vào cuối niên độ; sau đó dùng kết sổ từ các trương mục TSC, TSN, VDT, và kết hợp vói kết sổ của trương mục Tổng Kết Lãi Lỗ để lập Bảng Liệt Kê Tài Sản vào ngày cuối chu kỳ kế toán vừa kết thúc.

Hai bảng đúc kết vừa được lập là hai tài liệu tài chánh quan trọng để ban quản trị thương nghiệp biết được công việc làm ăn trong thời gian vừa qua, kết quả lời lỗ thế nào, khách hàng còn nợ thương nghiệp bao nhiêu tiền (accounts receivable), thương nghiệp còn những món nợ nào phải thanh toán cho chủ nợ (accounts payable), những khoản thu nào còn yếu kém (lower revenues), những khoản chi nào quá cao (higher expenses) để có những biện pháp cần thiết hoặc kịp thời sửa sai để đạt được những kết quả tốt đẹp hơn cho chu kỳ kế toán sau. Với một khóa học bốn tháng và mỗi tuần học ba giờ, các thầy cô phải vất vả lắm mới truyền đạt hết các kiến thức căn bản nầy cho các em học sinh của mình.

Hiện nay, với máy vi tính rất thông dụng trên thương trường, với môn học kế toán được vi tính hoá (computer accounting) và với nhiều phần mền (software) được đưa vào thị trường, việc làm của kế toán viên đã được giản dị hoá nhiều. Kế toán viên chỉ cần làm những việc ghi ở hai đoạn 6 và 9 ở trên, còn những việc khác thì chỉ cần bấm nút trên con chuột (mouse) để ra lệnh cho bộ óc của máy vi tính (processor) thi hàng rồi in ra những tài liệu kế toán tài chánh mà mình cần đến. Dĩ nhiên là môn kế toán từ nay trở về sau sẽ được dạy trên máy vi tinh với phần mền được cài đặt vào, nhưng những lý thuyết căn bản vẫn cần có sự chỉ dạy và hướng dẫn của thầy cô.

MÔN KINH TẾ NHẬP MÔN

Đây là môn học cuối cùng trong chương trình Doanh Thương được dạy tại các trường THKM và THTH ở Việt Nam. Trước hết, chúng tôi đề cập sơ lược đến lịch sử, các kinh tế gia, các học thuyết trong môn học kinh tế. Sau đó, chúng tôi nói đến hai hệ thống kinh tế chủ yếu trên thế giới:

1. Kinh tế tư bản hay kinh tế thị trường, tại các nước tư bản chủ nghĩa như Pháp, Mỹ, Đức, Nhật với sự can thiệp hạn chế của nhà nước, với lợi nhuận cá thể là động lực chính để phát triển nền kinh tế quốc gia.

2. Kinh tế chỉ huy, tại các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô cũ, Trung Quốc, Cuba, với kế hoạch ngũ niên, với sự chỉ huy và can thiệp trực tiếp của nhà nước, mà sự bình đẳng về nghĩa vụ xã hội và quyền lợi kinh tế là mục tiêu hàng đầu trong hệ thống kinh tế này.

Kế đến, chúng tôi nói về hai ngành kinh tế vi mô (micro) và vĩ mô (macro), quy luật cung cầu (supply/demand) trên thị trường tự do, tuyến cung và tuyến cầu, điểm thăng bằng (point of equilibrium) tức là giá mua bán trên thị trường tự do (market price), những khuyết điểm thường thấy trong thị trường tự do chẳng hạn như nạn độc quyền kinh tế (monopoly), các tập đoàn lũng đoạn kinh tế (oligopoly) cũng như luật lệ mà nhà nước đưa ra để trừng phạt những tệ nạn này (antitrust laws), Các nước trên thế giới đều có kế hoạch phát triển kinh tế để tăng mức Tổng Sản Lượng Quốc Gia (GNP) hàng năm lên cao hơn các năm trước, nhờ đó mức thu nhập của từng cá nhân trong quốc gia cũng được nâng cao và cuộc sống càng lúc càng tốt đẹp hơn; để đạt được những thành quả này nền kinh tế quốc gia ấy phải có được những yếu tố thuận lợi sau:

1. Các tài nguyên thiên nhiên dồi dào, như đất nông nghiệp mầu mỡ, các nguồn lâm sản, các quặng mõ, các nguồn nhiệt và thủy điện, các trữ lượng về dầu khí, các nguồn thủy và hải sản phong phú.

2. Một nguồn nhân lực được huấn luyện đầy đủ về chuyên môn và kỹ thuật.

3. Các tư bản như nguồn tài chánh, các loại máy móc, dụng cụ cần cho việc chế tạo và sản xuất ra hàng hoá, sản phẩm hoặc cung cấp các dịch vụ cần thiết.

4. Sau hết phải có những doanh nhân (entrepreneurs) giàu kinh nghiệm để kết hợp ba loại yếu tố trên, một trọng trách rất cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hoá và cung cấp dịch vụ sát với nhu cầu của xã hội.

Trước khi chấm dứt bài này, tôi xin có vài hàng để nói về chương trình huấn luyện các thầy cô, những người sẽ được bổ nhiệm về dạy các môn Doanh Thương ở các trường Kiểu Mẫu và Tổng Hợp. Các trường Đại Học ở Hoa Kỳ có hai văn bằng mà người ngoại quốc thường hay lẫn lộn với nhau: đó là bằng Master of Bussiness Adminnistration, Cao Học Quản Trị Kinh Doanh (MBA) và bằng Master of Bussiness Education, Cao học Giáo Dục Doanh Thương (MBE).

Để được cấp bằng MBA học viên phải học các môn chuyên nghiệp về kế toán, nghiên cứu thị trường, quản lý tài chánh, quản trị xí nghiệp, kinh tế học, môn giao tế, các môn học cần cho một quản trị viên trong các cơ sở thương mãi và phải trình một luận đề (thesis) về ngành mình theo học. Ðể được cấp bằng MBE, học viên phải học 3/4 các tín chỉ chọn trong số các môn Doanh thương và Quản trị được dạy trong ngành Quản trị Kinh doanh và 1/4 các tín chỉ về ngành Giáo dục Tổng quát hoặc Giáo dục Doanh thương, và trình một luận đề liên quan đến ngành học đã chọn, hoặc thay vào dó, học viên phải học thêm môt vài tín chỉ về ngành Doanh thương (non-thesis option). Bà Marguerite Appel, cố vấn ngành Doanh thương tại Viêt Nam, là người đứng ra chọn những ứng viên cho chương trình huấn luyện giáo chức cho ngành này. Hầu hết các thầy cô, kể cả những thầy cô được huấn luyện tại chỗ (như trường hợp cô Bùi Kim Nhiệm) đều xuất thân từ ÐHSP chỉ riêng có môt trường hợp đặc biệt của thầy, tốt nghiệp Ðại Học Văn Khoa, nhưng vì trước đó được gọi nhập ngũ và được theo ngành sĩ quan quân nhu và tài chánh, nên đựơc ưu tiên chọn lựa để theo học ngành Doanh thương và Tài chánh (lúc này thầy đang dạy tại trường trung học Ngô Quyền, Biên Hòa). Thầy được chuyển đến học tại Kent State University (KSU), Kent, Ohio trong các năm 1964/1961. Ngôi trường này (my Alma Mater) còn để lại trong tâm trí của thầy một hình ảnh u buồn khó phai mờ: Vào đầu tháng tư năm 1972, các sinh viên của trường KSU đã tổ chức bãi khóa để chống đối chánh phủ Nixon vì đã mở rộng chiến tranh Việt Nam sang qua lãnh thổ Campuchia, và vị Thống đốc Tiểu bang Ohio đã đưa 1 tiểu đoàn Vệ binh Quốc gia (National Guard) đến để đàn áp nhóm sinh viên biểu tình. Vệ binh đã nổ súng vào đám sinh viên và làm tử thương bốn sinh viên của trường. Và từ đó đến nay, cứ mỗi năm, vào đầu tháng tư, các đài truyền hình Mỹ vẫn tiếp tục đưa lên màn hình, hình ảnh của cuộc biểu tình và của môt nữ sinh viên đang la khóc trước thi hài cùa môt người bạn bị bắn ngã trên lưng chừng một ngọn đồi nhỏ trong khuôn viên cư xá của trường đại hoc. Và trong thời gian ăn học ở KSU, thầy đã cư ngụ tại Stopher Hall (student dormitory) ở ngay chân đồi, và từ cửa sổ phòng trọ nhìn ra thì nơi xảy ra cuộc xô sát ở ngay tầm nhìn của mọi người. Sau ngày rời trường KSU, thầy được bổ về dạy tại KMTÐ vào niên học 1967/68. Cô Nguyễn Kim Hồng được cử qua học tại Indiana University of Pennsylvania, Indiana, Pennsylvania, vào các năm 1964 - 1967, và sau khi tốt nghiệp, cũng được bổ về dạy tại KMTÐ, sau ngày thầy về trường độ vài tháng. Trong thờì gian du học, cô Hồng và thầy có cùng đi dự một khóa hội thảo trong mùa nghỉ hè năm 1966 ở Detroit, Michigan, và cùng trở về trường cũ trên cùng môt chuyến tàu hỏa, vì hai trường học ở trong hai tiểu bang kế cận nhau. Thầy Nguyễn Xuân Như được cử sang học tại Indiana University, Bloomington, Indiana trong những năn 1965/1968, và sau ngày tốt nghiệp, được bổ về dậy tại THKM và ÐHSP Cần-Thơ, Thầy Hoàng Ngọc Khiêm (thầy Khiêm có một người anh, thầy, Hoàng Ngọc Thành, giáo sư ngành Sử học tại trường ÐHSP Sài Gòn) được cử sang học tại University of Portland, Oregon vào những năm 1966/1969. Sau khi tốt nghiệp, thầy được bổ về dạy tại THKM và ÐHSP Huế, nhưng vì gia đình thầy đã vào định cư ở Sài Gòn, nên thầy xin được ở lại giảng dạy tại ÐHSP Sài-gòn. Riêng cô Bùi Kim Nhiệm thì được bà cố vấn Marguerite Appel huấn luyện tại chỗ, sau ngày cô được chuyển bổ về KMTÐ. Hiện nay, cô Nhiệm và chồng, thầy Nghiêm Phú Thiệu và hai con, định cư tại San Diego, Califomia, và cô Nhiệm vẫn còn làm việc cho Học khu San Diego.

Tài Liệu Tham Khảo thêm  Chương Trình Đề Nghị Cho Môn Giáo Dục Doanh Thương do Ban Giáo Dục Doanh Thương Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức Biên Soạn

 

 

[Trở Lại Trang Trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates