Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Chương Trình Đề Nghị Cho Môn Giáo Dục Doanh Thương

(Ban giáo dục Doanh Thương trường trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức soạn thảo 1968-1969) 

MỤC  LỤC

I. Lời Nói Đầu

II. Triết Lý Của Trường Trung Học Tổng Hợp Việt Nam

III. Những Mục Đích và Mục Tiêu Của Môn Giáo Dục Thương Mại

IV. Những Ưu Điểm Của Môn Doanh Thương

V. Giáo Dục Doanh Thương: Môn Bắt Buộc hay Ý Niệm và Dạy ở Cấp Bậc Nào

VI. Ban Giáo Dục Doanh Thương Chương Trình Đề Nghị Cho Bậc Trung Học Đệ II Cấp

VII. Chương Trình Thi Đề Nghị Cho Ban Giáo Dục Doanh Thương

IIX. Sở Phí Thiết Lập Và  Điều Hành

IX. Mục Lục – Chương Trình

 

CHƯƠNG TRÌNH ĐỀ NGHỊ CHO MÔN GIÁO DỤC DOANH THƯƠNG

 

I. LỜI NÓI ĐẦU

Để có thể đạt được những mục tiêu định sẵn cho những trường trung học tổng hợp, chúng ta cần thay đổi hệ thống giáo dục hiện tại.  Bởi lẽ những sự thay đổi ấy rất sâu rộng và liên hệ đến mọi khía cạnh của chánh sách giáo dục hiện hữu như ngành quản trị học đường, phương pháp giáo dục, ban-giảng-huấn và chương trình học, nên việc thay đổi không thể một sớm một chiều hoàn tất được.  Thường thường một sự thay đổi thể hiện được khi có những điều kiện thuận lợi.

Một trong những mục tiêu của trường tổng-hợp là quy-tụ dưới một mái học đường nhiều ngành học khác nhau hầu các sinh viên có thể học hỏi môn nào mình thích nhất để có thể, sau nầy phục vụ một cách đắc lực những nhu cầu chuyên viên của một xã hội càng ngày càng phức tạp.  Để có thể đưa vào chương trình huấn-luyện một môn học mới những điều sau đây cần phải được thực hiện: phòng ốc và dụng cụ trang bị, chương trình học và tài liệu hướng dẫn, ban giảng-huấn.  Nhưng trước hết bộ Giáo-dục cần phải hợp-thức hóa chương-trình giáo-dục tổng hợp bằng nghị-định, hầu có một căn-bản pháp-lý cho các sự cải-tổ và thay đổi về sau nầy.

Ngành giáo dục Doanh Thương là một trong những môn học mới cần được đưa vào chương trình giáo dục tổng hợp nói trên.

Phòng ốc và Dụng cụ trang bị:  Trừ một trường còn tất cả các trường tổng hợp hiện hữu, đều được trang bị máy chữ với số tối-thiểu là mười lăm chiếc cho mỗi trường. Mỗi trường đều có dành riêng một phòng học để dùng vào việc huấn luyện các môn doanh-thương.  Tình trạng phòng ốc sẽ được khả quan hơn khi chương trình xây cất phòng học được hoàn tất vào cuối năm nay.

Chương trình học và tài liệu hướng dẫn:  Chương trình học và tài liệu hướng-dẫn đã được soạn thảo và đệ trình để Bộ chấp-thuận.  Tài liệu giáo khoa về bốn môn (Doanh-thương tổng quát, Đánh máy, Tổ chức Văn phòng, Kế toán) đã được ấn hành theo hình thức in ronéo và được sử dụng tại một số trường học.

Những tài liệu nầy đã được sửa chữa sau mỗi niên học, để được hoàn hảo hơn trước khi đem phổ biến rộng rãi.

Ban Giảng Huấn:  Hiện giờ số giáo sư chưa được đầy đủ lắm. Tuy nhiên Bộ Giáo Dục có thể giải quyết vấn đề này bằng cách giao cho các trường Đại Học Sư Phạm nhiệm vụ đào tạo các giáo sư cần thiết cho môn nầy.

Hiện thời trường Đại Học Sư Phạm Saigon có đủ ban giảng huấn, phòng học và dụng cụ trang bị cùng chương trình cần-thiết cho việc huấn luyện này.

Đến nay Bộ Giáo Dục đã ký nghị định biến cải mười hai trường phổ thông thành trường trung học tổng hợp để thực thi chương trình mới và đã thành lập một ủy ban để nghiên cứu và đề nghị chương trình mới.

Để việc thực thi chương trình giáo dục tổng hợp được xúc tiến nhanh, bộ Giáo Dục cần ký nghị định:

-   cho phép ủy ban nói trên được quyền ấn định chương trình học cho các trường tổng hợp.

-   cho các trường trung học được phép dạy các môn học mới, khi có đủ phương tiện.

-   cho xúc tiến ngay việc huấn luyện giáo sư môn doanh thương tại các trường Đại Học Sư Phạm.

-   cho áp dụng hệ thống nhiệm ý tại các bậc đệ nhất và đệ nhị cấp để học sinh có thể chọn tùy theo sở thích, các môn doanh thương khi học tại trường cũng như khi thi Tú Tài.

II. TRIẾT LÝ CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC TỔNG HỢP VIỆT NAM

  1.  Trường trung học tổng hợp nhằm đem lại một nền quần chúng giáo dục: giáo dục cho tất cả mọi học sinh chứ không phải chỉ dành cho một thiểu số được ưu đãi chọn lọc.
  2. Trong chương trình giáo dục tổng hợp, học sinh cần có một số vốn giáo dục tổng quát (general education). Phần giáo dục tổng quát này dành cho mọi học sinh bất luận khả năng đặc biệt.  Đó là những kiến thức và tài khéo căn bản người học sinh cần có để sống như một công dân hữu ích trong quốc gia, một cá nhân có trách nhiệm trong gia đình và một con người sống hòa đồng và thích ứng với mọi người khác và hoàn cảnh.
  3. Trường trung học tổng hợp đem lại giáo dục cho mọi cá nhân và nhằm phát triển khả năng của họ tới mức tối đa. Những khả năng thì khác nhau vậy phải có những sự xếp đặt chương trình cùng những phương pháp phương thức đáp ứng cho vấn đề cá nhân khác biệt.  Để có thể đáp ứng và phát triển những khả năng đặc biệt, một hệ thống những môn nhiệm ý cần được thiết lập để học sinh có dịp thử thách và tìm hiểu rõ sở thích cùng khả năng của mình đồng thời phát triển những khả năng đặc biệt và sửa soạn cho một nghề trong tương lai.  Điều này có thể thực hiện được nhờ sự chọn lựa đúng những môn học, ban theo học và nhờ một chương trình hướng dẫn hữu hiệu.
  4. Trong một hệ thống học đường mới nhằm những mục tiêu chân chính của giáo dục phát triển con người toàn diện Trí Đức Thể nhằm phát triển cá nhân và đáp ứng nhu cầu xã hội, cần phải chú trọng về những gì thực dụng và thực hành và đặt nặng sự tham gia hoạt động của người học sinh chứ không phải chia sẻ kiến thức như tại đa số học đường cổ truyền.  Do đó chương trình những môn thực nghiệp cũng có tầm quan trọng và phương pháp giảng dạy phải được cải tiến ngõ hầu phục vụ mục tiêu thực dụng của học vấn.  Chính phương pháp mới tự nó cũng đã phát triển thái độ và tài khéo mong muốn, ngoài phần nội dung chương trình.
  5. Trường trung học tổng hợp nhằm sửa soạn lề lối sống dân chủ, sự hiểu biết và môi trường sinh hoạt địa phương, xã hội và văn hóa quốc gia và về thế giới bên ngoài cần được nhấn mạnh ngay khi học sinh ở học đường qua trong chương trình giảng dậy đồng thời  huấn luyện tinh thần và khả năng cộng đồng qua những sinh hoạt tập thể.
  6. Một sự phối hợp chặt chẽ giữa chương trình học khóa y tế, thể dục, họat động hiệu đoàn cần được thiết lập ngõ hầu tránh được tính cách xé lẻ của nền giáo dục từ chương. Điều này cần được thực hiện trong cả phạm vi điều hành và giảng dậy khiến học sinh ý thức được ngay tầm quan trọng của sự phát triển toàn diện.
  7. Ở một trường trung học tổng hợp, các giáo sư ngoài nhiệm vụ hướng dẫn về kiến thức và tài khéo léo của học sinh còn đóng vai trò một người huynh trưởng theo dõi, săn sóc học sinh trong mọi khó khăn và trợ giúp học sinh khi cần thiết.
  8. Với ý thức rằng mọi sự sửa soạn sẵn của nhà trường không thể tránh khỏi khiếm khuyết trong việc đáp ứng mọi nhu cầu của học sinh nhất là về nhu cầu tìm hiểu học hỏi, học sinh cần được huấn luyện về thái độ khoa học, khả năng giải quyết vấn đề và tài khéo tìm tới những nguồn trợ giúp khi cần thiết. Những nguồn đó có thể là sách vở, tài liệu tham khảo ở thư viện, những chuyên viên nghề nghiệp gặp được trong những buổi du khảo hay trong môi trường sinh hoạt đặc biệt nào đó.
  9. Trường trung học tổng hợp nhằm đem lại giáo dục cho đại chúng mọi giai tầng xã hội và cá nhân khác biệt cùng phát triển những khả năng đặc biệt của học sinh. Do đó không nhằm loại bỏ học sinh vì một khiếm khuyết nào thuộc trí tuệ, thân xác, gia cảnh, thành phần xã hội. Để đáp ứng quan điểm đó trường trung học tổng hợp cần có những ngành học khác nhau, cần hướng dẫn học sinh chọn ngành học thích hợp với sở thích khả năng và nhất là cần những phương pháp và phương thức giáo dục phù hợp với mục tiêu này.
  10. Với tất cả những quan điểm triết lý nêu trên, trường trung học tổng hợp nhằm đem lại quyền được hưởng sự giáo dục của mọi công dân đã ghi trong hiến pháp để mưu lợi ích cho cá nhân đồng thời nhằm mục tiêu rộng lớn hơn là việc sửa soạn nhân sự ở mọi ngành mọi từng lớp hoạt động cho việc phát triển quốc gia. 

III. NHỮNG MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA MÔN GIÁO DỤC THƯƠNG MẠI

Trong việc giáo dục thanh niên môn Giáo Dục Thương Mại nhắm vào hai mục đích chính sau đây:

 

1. Giáo Dục Thương Mại Tổng quát.

Có mục đích tạo kiến thức, tư cách và năng khiếu không thuộc phạm vi chuyên nghiệp cần thiết cho tất cả mọi người để đạt được kết quả hữu hiệu trong phạm vi kinh tế cá nhân và trong việc hiểu biết hệ thống kinh tế quốc gia.

a. Giáo dục người tiêu thụ.

Đào tạo những người tiêu thụ sáng suốt những dịch vụ doanh thương.  Việc giáo dục này hướng về học sinh với tư cách một cá nhân riêng rẽ.

b. Giáo dục về kinh tế.

Tạo cho học sinh một sự hiểu biết tường tận về nền kinh tế quốc gia.  Việc giáo dục này hướng về học sinh với tư cách một phần tử xã hội.

2. Giáo Dục Thương Mại có Tính Cách Hướng Nghiệp

Tạo năng khiếu và sự hiểu biết chuyên nghiệp cần thiết cho bước đường đầu tiên vào nghề cũng như cho sự thăng tiến trong doanh nghiệp.

a. Huấn luyện công việc có tính cách chuyên môn.  Huấn luyện năng khiếu và tạo kiến thức chuyên môn như dạy đánh máy, sử dụng máy móc văn phòng, kế toán.

b. Áp dụng sự thông minh vào nghề nghiệp.  Có nghĩa là biết cách sử dụng các năng khiếu trong phạm vi doanh thương.

Giáo dục thương mại đóng góp một phần quan trọng vào việc huấn luyện những hiểu biết về kinh tế cho tất cả nam nữ học sinh ở cấp trung học.

(1) Giáo dục thương mãi mang lại một chương trình chuẩn bị hướng nghiệp thích hợp cho nam nữ học sinh nào muốn bước vào ngành doanh thương sau khi học xong cấp trung học.

(2) Vài môn giáo dục thương mại sẽ là môn nhiệm ý cho tất cả học sinh trung học dự định tiến lên đại học.

IV. NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA MÔN DOANH THƯƠNG

Với những môn học tổng quát phổ thông hiện có thêm vào những môn học chuyên biệt sau đây:

1. Môn đánh máy chữ 

2. Môn hoạt động và điều hành văn phòng

3. Môn kế toán

4. Môn doanh thương tổng quát

5. Môn kinh tế học ứng dụng

Những học sinh tốt nghiệp Tú Tài II ban Doanh Thương sẽ được những lợi điểm:

1. Nếu không có phương tiện tiếp tục lên Đại học, với số kiến thức đã thâu thập được, học sinh có đủ khả năng xin việc làm một cách dễ dàng.  Thí dụ xin làm các công việc văn phòng (thư ký đánh máy, điện thoại viên, tiếp viên v.v...) và các công việc về kế toán (thư ký kế toán v.v...)

2. Nếu tiếp tục lên Đại học, học sinh chẳng những có đủ kiến thức cần thiết để tiếp tục các ngành Đại học như các học sinh phổ thông mà lại còn có lợi điểm là có thêm những kiến thức căn bản chuyên môn, chẳng hạn như môn kế toán và kinh tế học ứng dụng rất có ích lợi cho học sinh lựa chọn ngành kinhh tế học, luật khoa v.v...

Các môn học khác kể trên cũng ích lợi cho các ngành học khác ở bậc đại học.

V. BAN GIÁO DỤC DOANH THƯƠNG: MÔN BẮT BUỘC HAY NHIỆM Ý VÀ DẠY Ở CẤP BẬC NÀO

Chương trình giáo dục doanh thương cần được Bộ Giáo-Dục công nhận và ghi vào chương trình học hiện hữu vì những lý do sau đây:

Chương trình giáo dục doanh thương hướng về hai mục tiêu chánh yếu.

  • Mục tiêu thứ nhất là giáo dục hướng nghiệp và bảng đề nghị đính kèm hướng về mục tiêu ấy.

Theo bảng đề nghị nầy thì một ban mới được thêm vào số bốn ban hiện có và được gọi là “Ban Doanh Thương”.

Những học sinh nào đã học xong ban này và thi có kết quả vào hai năm sau cùng bậc trung học đệ nhị cấp sẽ được cấp phát văn bằng Tú Tài toàn phần “Ban Doanh Thương”. Văn bằng sẽ được công nhận có giá trị như các bằng Tú Tài khác do Bộ Giáo Dục cấp phát về phương diện văn hóa cũng như về phương diện ghi danh vào các trường Đại Học.  Những học sinh không được cấp văn bằng sẽ được cấp phát những chứng chỉ ghi rõ khả năng đạt được trong ngành chuyên môn để có thể tìm việc làm thích hợp với sở thích từng người.

  • Mục tiêu thứ nhì chú trọng đến việc giúp học sinh thu thập được những hiểu biết căn bản về cuộc sống kinh tế hàng ngày nhất là huấn luyện cho học sinh trở thành những người tiêu thụ và sản xuất khôn ngoan.  Mục tiêu này có thể thực hiện được bằng hai cách: thứ nhất là ghi các môn “Doanh Thương” vào chương trình học bắt buộc, thứ hai là ghi các môn Doanh Thương như những môn nhiệm ý. 

Phương thức thứ nhất xét ra không thực tế lắm nhất là trong tình trạng hiện tại của nước nhà vì hai lẽ sau đây.

-   Muốn phổ thông hóa môn học này thì cần phải được dạy ở bậc đệ nhất cấp, nhưng hiện nay tại các trường này số phòng ốc đã là một vấn đề nan giải cho ban giám đốc, trừ phi Bộ Giáo Dục có một chương trình xây cất thêm nhiều phòng học cho mỗi trường đệ nhất cấp.

-   Lý do thứ hai là sự thiếu thốn giáo sư có căn bản vững chắc để dậy môn “DoanhThương Tổng Quát” cũng như sự phổ biến chưa được sâu rộng về đường hướng và mục tiêu của môn học này trong thành phần các nhà giáo dục.

Đề nghị thứ hai có thể thực hiện được một cách dễ dàng nếu Bộ Giáo Dục chấp nhận cho áp dụng tại các trường trung học một hệ thống nhiệm ý; nghĩa là ở bậc đệ I cấp học sinh có thể chọn môn “Doanh Thương Tổng Quát” hay môn “Đánh máy” thay vì chọn môn “Âm nhạc”, “Hội họa” hay “Nữ công” như hiện nay, và ở bậc đệ II cấp học sinh có thể chọn môn “Đánh máy”, “Kế toán”, “Kinh Tế Học Ứng Dụng” v.v... thay cho môn “Sinh Ngữ II”.  Khi thi Tú tài, sẽ có phần khảo sát về các môn nhiệm ý y như là các môn học khác.

VI. BAN GIÁO DỤC DOANH THƯƠNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỀ NGHỊ CHO BẬC TRUNG HỌC ĐỆ NHỊ CẤP

 

 

Lớp

 

Đệ tam

Đệ nhị

Đệ nhất

1.   Quốc văn -------------------------------------------------------------

3

3

0

2.   Sử Địa   ----------------------------------------------------------------

2

2

2

3.   Công Dân Giáo Dục   ------------------------------------------------

2

2

1

4.   Triết Học ------------------------------------------------------------

0

0

3

5.   Sinh Ngữ * ----------------------------------------------------------

6

6

6

6.   Lý Hóa   ---------------------------------------------------------------

1

1

1

7.   Toán   ------------------------------------------------------------------

4

4

4

8.   Vạn Vật   ---------------------------------------------------------------

1

1

1

9.   Giáo Dục Doanh Thương

 

 

 

     a. Doanh Thương Tổng Quát   ------------------------------------

3

0

0

     b. Đánh máy chữ   ---------------------------------------------------

3

0

0

     c. Hoạt động và điều hành văn   phòng -------------------------

0

3

3

     d. Kế toán   -----------------------------------------------------------

0

3

3

     e. Kinh Tế Học ứng dụng   -----------------------------------------

0

0

3

                                   Cộng:

25

25

27

 

 3

 3

 3

Tổng cộng:

28

28

30

 

 

 

 

* Môn Sinh Ngữ Học ở Đệ Nhị Cấp là môn Sinh Ngữ đã học ở bậc Đệ Nhất Cấp

Thể lệ thi cử:  Hết khóa học, học sinh phải qua kỳ thi Tú Tài. Khi đỗ được Tú Tài toàn phần, học sinh có thể nhập học các trường đại học. 

Học sinh nào không đỗ được Tú Tài toàn phần sẽ được cấp một chứng chỉ về khả năng chuyên môn chiếu theo điểm học vấn. 

VII. CHƯƠNG TRÌNH ĐỀ NGHỊ CHO BAN GIÁO DỤC DOANH THƯƠNG 

A.Tú Tài Phần Nhất

 

 

 

       Môn Thi

Thời Gian

Hệ Số

-     Việt   văn    ----------------------------------------------------

3 giờ

2

-     Sinh   ngữ   ----------------------------------------------------

2

2

-     Toán   ---------------------------------------------------------

2

2

-     Hoạt động và   điều hành văn phòng -------------------

2

3

-     Kế   toán   ------------------------------------------------------

2

3

-     Sử, Địa, Công   dân ------------------------------------------

1,30

1

-     Lý, Hóa, Vạn Vật   -------------------------------------------

1,30

1

 

 

 

B. Tú Tài Phần   Nhì

 

 

 

     Môn Thi

Thời Gian

Hệ Số

-     Triết   học   ----------------------------------------------------

3 giờ

2

-     Sinh   ngữ ----------------------------------------------------

2

2

-     Toán   ---------------------------------------------------------

2

2

-     Hoạt động và   điều hành văn phòng -------------------

2

3

-     Kế   toán   ------------------------------------------------------

2

3

-     Kinh-tế học ứng   dụng ------------------------------------

1,30

2

-     Sử, Địa   -------------------------------------------------------

1,30

1

-     Lý, Hóa, Vạn Vật   -------------------------------------------

1,30

1

IIX. SỞ PHÍ THIẾT LẬP VÀ ĐIỀU HÀNH Ở BẬC ĐỆ NHỊ CẤP (CÁC TRƯỜNG SỞ)

Năm/Môn học

Số giờ trong tuần

Số lớp

Tổng số giờ

Kinh phí điều hành

Giáo sư/Lg. bổng

Tu trì và sử chữa

 

Năm thứ nhất- Đệ   Tam

-Doanh Thg. Tổng   Quát

-Đánh máy chữ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3

2

6

1 Giáo sư

40 băng mực $5.000-

Sửa chữa $10.000-

3

2

6

 

 

 

12

$120.000,-

$15.000,-

 

 

 

 

 

 

Năm thứ nhì

 

 

 

 

 

Đệ Tam, Đệ Nhị

 

 

 

 

 

-Doanh Thg. Tổng   Quát

3

2

6

1 Giáo sư

50 băng mực $6.250-

Sửa chữa $12.500-

-Đánh máy chữ

3

2

6

-Kế toán

3

2

6

-Hoạt động và   điều

 hành văn phòng I

3

1

3

 

 

 

21

$150.000,-

$18.750,-

 

 

 

 

 

 

Năm thứ ba

 

 

 

 

 

Đệ Tam, Nhị, Nhất

 

 

 

 

 

-Doanh Thg. Tổng   Quát

3

2

6

2 Giáo sư

60 băng mực $7.500-

Sửa chữa $15.000-

-Đánh máy chữ

3

2

6

-Kế toán I

3

2

6

-Hoạt động và   điều

 hành văn phòng I

3

1

3

-Kế toán II

3

1

3

-Hoạt động và   điều

 hành văn phòng II

3

1

3

-Kinh tế học ứng   dụng

3

1

3

 

 

 

30

$240.000,-

$22.500,-

 

 

 

 

 

 

Năm thứ tư trở đi

 

 

 

 

 

Đệ Tam, Nhị, Nhất

 

 

 

 

 

-Đủ các môn học   như

 

 

 

2 Giáo sư

60 băng mực $7.500-

Sửa chữa $15.000-

 năm thứ ba.

 

 

 

 

 

 

30

$240.000,-

$22.500,-

 

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC “DOANH THƯƠNG” (CÓ TỪ 3 LỚP ĐỆ TAM TRỞ XUỐNG) 

Sơ lập phí

Tổng phí

Phòng ốc

Dụng cụ, máy móc

Trợ huấn cụ

Xây cất 1  phòng học

 $500.000

15 máy chữ (viện   trợ USAID).

Mua thêm 5 máy chứ   100.000

Bảng trưng bầy Đồ biểu $10.000

Phí linh tinh   $5.000

 

$500.000,-

$100.000,-

$15.000,-

$750.000,-

 

- Hiện hữu 1  Phòng

- Xây cất thêm

 1 phòng

 

Hiện hữu 20 máy   chữ

Mua thêm 5 máy mới

$100.000

 

Bảng trưng bầy Đồ biểu $10.000

Phí linh tinh   $5.000

 

$500.000,-

$100.000,-

$15.000,-

$783.750,-

 

 

Hiện hữu 25 máy   chữ

Mua thêm 5 máy mới   $100.000

 

Phí linh tinh   $5.000

 

Hiện hữu 2 phòng

Không cần xây cất thêm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

$0,-

$100.000,-

$5.000,-

$367.500,-

 

Không phải xây cất   thêm

 

Hiện hữu 30 máy   chữ

Mua thêm mỗi năm 5   máy mới để thay thế máy cũ $100.000

Phí linh tinh   $5.000

 

$0,-

$100.000,-

$5.000,-

$367.500,-

 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC “DOANH THƯƠNG” (CÓ TỪ 4 LỚP ĐỆ TAM TRỞ LÊN) 

Sơ lập phí

Tổng phí

Phòng ốc

Dụng cụ, máy móc

Trợ huấn cụ

-Xây cất 1  phòng học

 $500.000,-

-15 máy chữ (viện   trợ USAID).

-Mua thêm 5 máy chữ 100.000,-

Bảng trưng bầy Đồ biểu $10.000,-

Phí linh tinh   $5.000,-

 

$500.000,-

$100.000,-

$15.000,-

$750.000,-

 

-Hiện hữu 1  Phòng

-Xây cất thêm  1 phòng $500.000,-

 

-Hiện hữu 20 máy   chữ

-Mua thêm 5 máy   mới

$100.000,-

 

Bảng trưng bầy Đồ biểu $10.000,-

Phí linh tinh   $5.000,-

 

$500.000,-

$100.000,-

$15.000,-

$873.750,-

 

 

-Hiện hữu 25 máy   chữ

-Mua thêm 5 máy   mới $100.000,-

 

Phí linh tinh   $5.000,-

 

Hiện hữu 2 phòng

Không phải xây cất thêm

thêm

 

 

 

 

 

 

 

 

$0,-

$100.000,-

$5.000,-

$487.500,-

 

Không phải xây cất   thêm

 

Hiện hữu 30 máy chữ

Mua thêm mỗi năm 5 máy mới để thay thế máy cũ $100.000

Phí linh tinh   $5.000

 

$0,-

$100.000,-

$5.000,-

$487.500,-

IX. MỤC LỤC - CHƯƠNG TRÌNH

1. Việt văn

2. Sử Địa

3. Công Dân Giáo Dục

4. Triết Học

5. Sinh Ngữ

6. Lý Hóa

7. Toán  Học

8. Vạn  Vật

9. Thể Dục

 GIÁO DỤC DOANH THƯƠNG 

MÔN DOANH THƯƠNG   TỔNG QUÁT 

 

I.   Mục đích của môn Doanh Thương Tổng Quát

 

II.  Môn Học Nên Dậy Ở Cấp và Lớp Nào

 

III.   Thời Gian Khóa Học

 

IV.   Chương Trình Học

 

V.  Phương Pháp Giảng Dậy

 

VI.   Trợ Huấn Cụ và Tài Liệu Giáo Khoa

 

 

 

MÔN   KINH TẾ HỌC ỨNG DỤNG

 

I.   Mục đích

 

II.  Môn Học Nên Dậy Ở Cấp và Lớp Nào

 

III.   Thời Gian Khóa Học

 

IV.  Khái Lược Về Kinh Tế Học

 

V.  Phương Pháp Giảng Dậy

 

VI.   Trợ Huấn Cụ và Tài Liệu Giáo Khoa

 

 

 

MÔN   ĐÁNH MÁY

 

I.   Mục   đích

 

II.    Môn Học Nên Dậy Ở Cấp và Lớp Nào

 

III.   Thời Gian Khóa Học

 

IV.   Chương Trình Học

 

V.   Phương   Pháp Giảng Dậy

 

VI.   Trợ Huấn Cụ và Tài Liệu Giáo Khoa

 

 

 

HUẤN LUYỆN THƯ KÝ VĂN PHÒNG I VÀ II

 

 

I.   Mục đích

 

 

II.  Môn Học Nên Dậy Ở Cấp và Lớp Nào

 

 

III.   Thời Gian Khóa Học

 

 

IV.   Chương Trình Học

 

 

V.  Phương Pháp Giảng Dậy

 

 

VI.   Trợ Huấn Cụ và Tài Liệu Giáo Khoa

 

 

 

 

 

MÔN   KẾ TOÁN

 

 

I.   Mục đích

 

 

II.  Môn Học Nên Dậy Ở Cấp và Lớp Nào

 

 

III.   Thời Gian Khóa Học

 

 

IV.   Chương Trình Học

 

 

V.  Những Điều Cần Nhớ Trong Khi Giảng Dậy   Môn Kế Toán

 

 

VI.   Trợ Huấn Cụ và Tài Liệu Giáo Khoa

 

 

                                                                                                                                                    

 1. VIỆT VĂN  

Lớp đệ tam   ----------------------------------------

3 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị ----------------------------------------

3 giờ mỗi tuần

Như ban Khoa học Toán và Khoa học Thực Nghiệm

 

 

2. SỬ ĐỊA 

Lớp đệ tam   ----------------------------------------

2 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị ----------------------------------------

2 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhất ---------------------------------------

2 giờ mỗi tuần

Như ban Khoa học Toán và Khoa học Thực Nghiệm

 

 

3. CÔNG DÂN GIÁO DỤC 

Lớp đệ tam   ----------------------------------------

2 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị ----------------------------------------

2 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhất   ---------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

Như ban Khoa học Toán và Khoa học Thực Nghiệm

 

 

4. TRIẾT HỌC 

Lớp đệ nhất   ---------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

               Như   ban Khoa học Toán

 

 

5. SINH NGỮ 

Lớp đệ tam   ----------------------------------------

6 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị   ----------------------------------------

6 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhất ---------------------------------------

6 giờ mỗi tuần

Như ban Văn Chương, Sinh ngữ II không bắt buộc. Học   sinh chỉ cần học một sinh ngữ chính hầu đạt đến một khả năng vững   chắc về sinh ngữ đã chọn.

 

6. LÝ HÓA 

Lớp đệ tam ----------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị   ----------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhất   --------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

Như ban Văn Chương

 

 

7. TOÁN HỌC 

Lớp đệ tam ----------------------------------------

4 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị   ----------------------------------------

4 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhất   ---------------------------------------

4 giờ mỗi tuần

Như ban Khoa học Thực Nghiệm

 

 

8. VẠN VẬT 

Lớp đệ tam ----------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị ----------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhất   ---------------------------------------

1 giờ mỗi tuần

Như ban Văn Chương

 

 

9. THỂ DỤC 

Lớp đệ tam   ----------------------------------------

3 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhị   ----------------------------------------

3 giờ mỗi tuần

Lớp đệ nhất   ---------------------------------------

3 giờ mỗi tuần

Như chương trình Thể Dục – Thể Thao tại Học   Đường.

 GIÁO DỤC DOANH THƯƠNG TỔNG QUÁT

 I. Mục-đích của Môn Doanh Thương Tổng Quát

 Doanh-thương Tổng quát là một vấn đề căn bản liên hệ đến đời sống hằng ngày của mỗi cá nhân chúng ta, bất luận thuộc nghề nghiệp nào.  Thật vậy, tất cả mọi người đều là người tiêu thụ cần được thương mại thỏa mãn mọi nhu cầu hằng ngày. Chúng ta tiêu thụ hàng hóa như: mua thực phẩm, hàng vải v.v.., học sinh mua sắm tập vở, bút mực v.v..., hoặc sử-dụng dịch vụ như dùng xe cộ, bưu điện v.v... Có người đóng vai trò sản xuất hàng hóa cần thiết cho đời sống của dân chúng như sản xuất lúa gạo, than củi, thuốc men v.v..., hoặc cung cấp dịch vụ như giáo dục học sinh, chuyên chở hàng hóa đến tay người tiêu thụ, hớt tóc, giặt ủi v.v... Ở cương vị một cá nhân, một phần tử trong gia đình, chúng ta thường có bổn phận phải quan tâm đến việc tiêu tiền một cách thận trọng ngay khi mua sắm hoặc khi hoạch định chương trình tiết kiệm.  Trong đời sống hằng ngày, là một công dân, mỗi người chúng ta đều phải tham gia vào mọi quy định có liên quan đến sư thịnh vượng của nền kinh tế nước nhà.  Là một công dân có tinh thần trách nhiệm, ai cũng cần phải biết rõ xã hội mình đang sống để góp công vào việc xây dựng xã hội.

 Hơn nữa, đặc điểm của đời sống ở thế kỷ thứ XX nầy là không thể tách rời sinh hoạt kinh tế, xã hội, và công dân, vì ngày nay sự tương quan giữa các sinh hoạt ấy rất là chặt chẽ.

 Vì lẽ doanh thương đi liền với đời sống hàng ngày của mỗi con người hay nói khác đi chính nó là sinh hoạt của mỗi con người nên cần được đem giảng dạy cho học sinh để tạo thành những công dân sáng suốt trong lãnh vực kinh tế.

Môn học nầy ở lớp đệ ngũ nhằm mục đích tạo cho học sinh một căn bản kiến thức tổng quát vì nó đặc biệt liên quan đến các môn học khác có tính các xã hội như sử địa, công dân v.v... (Ví dụ khi chúng ta bàn đến vấn đề kỹ nghệ nước mắm ở Phú-quốc hay Phan-thiết, chúng ta cần nói đến vị trí địa-dư của hai nơi nầy để tìm hiểu tạo sao nước mắm lại được sản xuất ở đây mà không ở nơi khác), nhất là tạo cho học sinh sự hiểu biết cần thiết để trở thành người tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ một cách khôn ngoan.

Môn học này còn có mục đích phát triển những thói quen và những đức tính tốt của học sinh chẳng hạn như phát triển tính cần mẫn, sự khéo léo, sự lịch thiệp và sự thứ tự v.v... qua các chương sách về tiết kiệm, về lưu trữ hồ sơ v.v...

Môn học này còn đào luyện tính tình, những đức tính cần thiết cho việc xử thế, chẳng hạn như sự ngay thật trong việc giao dịch thương mãi, sự tự tin tự lập, sẽ giúp học sinh có thể thích nghi với đời sống hiện tại hoặc thực hiện một cách hữu hiệu các công việc giao phó, phát triển tinh thần tôn trọng luật pháp, chính quyền, sáng kiến của những kẻ khác, tinh thần hợp tác, tính cách vui vẻ niềm nở v.v...

Tóm lại, môn học này giúp cho học sinh sự hiểu biết để đóng góp vào việc cải tiến đời sống kinh tế của mỗi công dân.  Môn học này sẽ hướng về hai kết quả rõ rệt sau đây rất phù hợp với mục tiêu của trường Trung Học Kiểu Mẫu là tạo căn bản kiến thức và hướng nghiệp tùy theo khả năng và sở thích của học sinh.

1. Giúp học sinh hiểu biết về các sinh hoạt thương mãi cần thiết mọi người, đứng ở cương vị một người tiêu thụ hay một công dân trong tập thể xã hội.

2. Tạo căn bản hiểu biết cho học sinh có khuynh hướng làm doanh thương hoặc theo học các ngành doanh thương chuyên nghiệp sau này (như trở thành chuyên viên kế toán, chuyên viên ngân hàng).

 II. Môn học nên dạy ở cấp và lớp nào

Việc giảng dạy môn Doanh Thương Tổng quát thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh và phương tiện.  Môn học có thể dạy ở lớp đệ ngũ với tính cách nhập môn; hoặc dạy cùng một lượt với môn Đánh Máy ở lớp Đệ Tứ hay năm đầu bậc Đệ Nhị Cấp (lớp Đệ Tam).

 III. Thời gian khóa học

Môn học được dạy suốt một niên học với ba giờ mỗi tuần lễ.

IV. Chương trình học

Ý niệm về doanh thương tổng quát

-       Hoạt động doanh thương trong xã hội của bạn,

-       Doanh thương phục vụ bạn như thế nào,

-       Doanh thương cần nhiều công dân.

Chương này có mục đích mang lại cho học sinh sự hiểu biết về ngành doanh thương và sự quan trọng của sinh hoạt này đối với sự thịnh vượng của cá nhân, xã hội, quốc gia.

Sử dụng những dịch vụ ngân hàng    

-   Tiền tệ

-   Ngân hàng giúp ích cho sự giao thương

-   Cách thức mở trương mục chi phiếu

-   Cách viết chi phiếu

-   Sử dụng chương mục chi phiếu

-   Phải làm gì khi nhận được chi phiếu

-   Những hình thức khác thay thế tiền tệ và những dịch vụ khác của ngân hàng 

Chương này giúp cho học sinh hiểu biết công dụng của ngân hàng và biết sử dụng một cách khôn ngoan những dịch vụ do ngân hàng cung cấp.

Tiết kiệm

-            Hoạch định cách dùng lợi tức của bạn

-            Chương trình tiết kiệm và chi tiêu của một học sinh

-            Chương trình tiết kiệm và chi tiêu của một gia đình

-            Hoạch định một chương trình tiết kiệm – những cơ hội tốt để đầu tư tiền tiết kiệm 

Chương này giúp học sinh hiểu được sự quan trọng của việc phát triển thói quen tiết kiệm và những nguyên tắc căn bản để đầu tư một cách khôn ngoan.

Dịch vụ liên lạc và thông tin

-   Sử dụng điện thoại

-   Điện thoại liên tỉnh

-   Điện tín

-   Thư tín

Chương nà̀y giúp học sinh hiểu được sự quan trọng của những dịch vụ liên lạc và thông tin ngày nay, biết cách dùng một cách hữu hiệu những dịch vụ này trong những hoạt động cá nhân hay thương mại. 

Chuyên chở và vận tải 

-   Dịch vụ bưu chính

-   Gởi hàng hóa bằng bưu điện

-   Dịch vụ vận tải hàng hóa

Chương này giúp học sinh hiểu được vấn đề chuyên chở và dịch vụ chuyển vận đã đóng góp như thế nào vào sự thịnh vượng và sự phát triển nền kinh tế nước nhà, biết sử dụng bưu điện, các phương tiện giao thông và các dịch vụ khác khi cần gửi hàng hóa.

Lưu trữ hồ sơ và tài liệu

-   Các phương pháp thường dùng để lưu trữ hồ sơ và tài-liệu

-   Phòng văn thư tại cơ sở hay tổ chức thương mại

Chương này giúp học sinh biết cách xếp đặt các hồ sơ quan trọng cho có thứ tự hầu sau này tìm ra một cách nhanh chóng và dễ dàng mỗi khi cần đến.

Thành công trong nhiệm vụ công dân về mặt kinh tế

Chương này giúp học sinh những kiến thức để dự định chọn nghề nghiệp thích để đóng góp vào việc xây dựng nền kinh tế quốc-gia.

V. Phương Pháp giảng dạy

-   Không bắt học sinh học hỏi bằng cách vận dụng trí nhớ

-   Giảng dạy bằng cách để học sinh tíchcực tham gia vào bài học bằng hành động, bằng sự quan sát, suy nghĩ, bằng cách áp dụng thực tiễn những điều đã học, bằng những kinh nghiệm về những vấn đề doanh thương của chính cá nhân học sinh, hoặc của những người mà học sinh thường tiếp xúc.

Việc giảng dạy được thực hiện bằng những phương cách sau đây:

Phương pháp thính thị: Tập học sinh quan sát, phê phán, ghi nhận bài học bằng cách sử dụng phim ảnh, tranh ảnh, tài liệu báo chí v.v... sử dụng máy ghi âm để ghi lại những bài tường trình về những cuộc du khảo quan sát những xí nghiệp, những ngân hàng v.v..., sau đó bài tường trình sẽ được phát lại cho học sinh nghe để chúng tiện việc nhận định ưu và khuyết điểm.

Phương pháp sưu tầm, triển lãm: Mở rộng sự hiểu biết và phát triển tinh thần học hỏi của học sinh bằng những tranh ảnh sưu tầm và triển lãm trên bảng.  Ví dụ: Học sinh học hỏi vấn đề hàng hóa đến tay người tiêu thụ như thế nào, bằng cách sưu tầm tranh ảnh về các loại hàng hóa từ lúc còn là nguyên liệu cho đến lúc trở thành hàng hóa để tiêu thụ như sưu tầm những hình ảnh sinh-hoạt ở đồng ruộng (gieo mạ, cấy lúa, gặt lúa v.v...) ---> hình ảnh sinh-hoạt ở các nhà máy xay lúa -----> hình ảnh về sự chuyên chở, phân phối gạo đến các đô thị -----> hình ảnh những hàng gạo ở chợ, ở các tiệm buôn với khách hàng.

Phương pháp thuyết trình

a. Tổ chức những cuộc thăm viếng quan sát các cơ sởliên quan đến môn học như thăm viếng bưu điện, ngân hàng, các xí nghiệp v.v... Sau đó tổ chức các cuộc thuyết trình ở lớp học về cuộc quan sát này để tập học sinh nhận xét và phát biểu ý tưởng một các bạo dạn.  Sau cùng, giáo sư sẽ giúp học sinh nhận xét, phê bình nội dung bài thuyết trình cũng như thái độ của thuyết trình viên.

b. Tranh luận. Tập học sinh suy luận, phê phán và bạo dạn phát biểu ý kiến trong tinh thần dân chủ.  Tron--=g mỗi lớp, học sinh sẽ được chia ra làm 3 nhóm, mỗi nhóm luân phiên nhau nêu lên một đề tài thuộc phạm vi bài học để cùng 2 nhóm kia tranh luận.  Ví dụ: như tranh luận về vấn đề nên thuê nhà nên mướn nhà.

c. Tổchức những cuộc nói chuyện của các chuyên viên để mở rộng sự hiểu biết và lưu ý học sinh hơn về mên học như tổ chức cuộc nói chuyện của chuyên viên ngên hàng, chuyên viên bưu điện v.v...

Sau mỗi chương sách thì có phần kiểm soát bài học gồm có những phần sau đây:

        1. Kiểm-soát các từ ngữ chuyên môn
        2. Kiểm-soát điều đã đọc
        3. Kiểm-soát điều đã học
        4. Giải những bài toán liên-quan đến doanh thương
        5. Trả lời những câu hỏi thông minh

Thực hành: Áp dụng một cách thực tiễn những điều đã học. Tập học sinh lập sổ chi tiêu cá nhân, tập điền các chi phiếu do giáo sư in ra dựa theo mẫu chi phiếu của ngân hàng, bưu điện v.v... tập lập thủ tục gửi thư bảo đảm, gửi điện tín, gửi bưu kiện v.v... để học sinh có thói quen tốt khi sử dụng các dịch vụ trên, tập xếp thư, viết địa chỉ trên phong bì và dán tem cho đúng chỗ để công việc đóng dấu tem bằng máy ở bưu điện được dễ dàng, nhanh chóng.  Nếu có phương tiện, học sinh sẽ thực tập sử dụng máy điện thoại.

Khi giảng dạy giáo sư sẽ chú-ý đến những điều sau đây:

Chú ý đến những hoạt động tập thể của học sinh bằng cách

      1. Cho học sinh trình diễn những vở kịch ngắn, dưới một đề tài thuộc phạm vi môn học để phát triển óc sáng kiến và sự ghi nhận bài học một cách linh động và tự nhiên. 
      2. Cho học sinh bàn luận về một đề tài được cụ-thể-hóa bằng tranh ảnh triển laãm trên bảng.
      3. Cho học sinh lập dự định hoạt-động của từng nhóm: Ví dụ như dự định thăm viếng một ngân hàng địa-phương, quan sát sinh hoạt và tìm hiểu những dịch vụ của mỗi ghi-sê. 

Chú ý đến những hoạt động cá nhân

1. Đối với học sinh chậm hiểu

-   Khuyến khích học sinh trả lời miệng hoặc trên giấy những câu hỏi liên quan đến bài học.

-   Sưu tầm tài liệu môn học

-   Ghi chú những điều đã quan sát

2. Đối với học sinh giỏi

-   Tập suy nghĩ và giải quyết những vấn đề khó

-   Tập tìm hiểu bằng cách điều tra: Ví dụ như hiểu giá biểu thuê của những bất động sản.

-   Tập trình bầy ý tưởng bằng cách trả lời miệng hoặc trên giấy

Số giờ dạy: Mỗi tuần 3 giờ. 

VI. Trợ Huấn cụ và tài liệu giáo khoa

-   Sách giáo khoa

-   Tài liệu hướng dẫn

-   Bài tập ứng dụng bài học

-   Bảng trưng bày

-   Vở ghi bài học

-   Tài liệu tham khảo

-   Trung tâm khuếch trương kỹ nghệ

-   Ngân hàng

-   Viện thống kê

-   Nha Nưu điện và Viễn thông

-   Nha Hỏa xa

-   Báo chí và nguyệt san

-   Du khảo 

MÔN KINH TẾ HỌC ỨNG DỤNG 

I. Mục-đích 

1. Giúp cho học sinh thấu hiểu những vấn đề kinh tế hằng ngày, các mối liên quan giữa những hoạt động kinh tế và ảnh hưởng của những hoạt động ấy đối với cá nhân.

2. Giúp cho học sinh thấu triệt tầm quan trọng của những hoạt động cá nhân đối với sự thịnh vượng riêng tư của từng người một và đối với nền thịnh vượng chung của xã hội hầu gây nơi học sinh một ý niệm rõ rệt về nhiệm vụ của mỗi công dân trong việc gây dựng nền phồn thịnh cho quốc gia.

3. Trình bày các yếu tố căn bản cần thiết trong việc thực hiện có kết quả các chương trình hay kế hoạch có tính cách kinh tế.

4. Phát triển nơi học sinh những đức tính cần thiết để trở thành một công dân tốt trên bình diện kinh tế. 

II. Môn học nên dạy ở cấp và lớp nào?

Môn kinh tế học cũng như môn Doanh Thương Tổng Quát có thể được xem như những môn giáo dục về kinh tế.  Môn giáo dục về kinh tế có thể dạy ở những bậc học khác nhau, tuy nhiên môn Doanh Thương Tổng Quát vì là môn khái niệm cần được dạy trước ở bậc đệ I cấp và môn Kinh-tế học ứng dụng cần được dạy ở bậc đệ II cấp:

-   Doanh Thương Tổng Quát: lớp đệ Ngũ, đệ Tứ hay đệ Tam

-   Kinh tế học ứng dụng: lớp đệ Nhị hay đệ Nhất 

III. Thời gian khóa học

Môn học được dạy trọn một niên học và mỗi tuần học 3 giờ.

IV. Khái lược về kinh tế học

Học ôn những khái lược về kinh tế học (đã dạy trong chương trình công dân giáo dục lớp đệ Nhị): Những vấn đề kinh tế. Các yếu tố sản xuất: tài nguyên, tư bản, và nhân lực. Các giai đoạn sản xuất: khai thác, chế biến và mậu dịch.  Luật cung cầu và giá hàng trên thị trường.  Tiền tệ.

Học ôn những khái lược về kinh tế học (tiếp theo): Các chủ nghĩa kinh tế; tư bản và xã hội; kinh tế tự do và kinh tế chỉ huy.

Hoạt động kinh tế trên phương diện cá nhân

An ninh cá nhân về mặt kinh tế: Hoạch định cho tương lai; chọn nghề, huấn luyện về nghề nghiệp, kinh nghiệm trong nghề.  Dự định chi thu: chi thu trong gia đình, chi thu cá nhân.

Chương trình tiết kiệm và đầu tư: Cách sử dụng tiền tiết kiệm. Các ngân hàng và quỹ tiết kiệm. Cách đầu tư tiền tiết kiệm: mua cổ phần, công khố phiếu tại các thị trường chứng khoán, cho vay, chơi hụi.

Tín dụng: Các cơ quan và ngân hàng tín dụng. Các loại tín dụng. Điều kiện xin mở tín dụng. Mua hàng trả góp.

Tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ: Chương trình mua sắm dài hạn. Hiểu rõ thị trường.  Quảng cáo hàng hóa và dịch vụ dưới mắt người tiêu thụ. Nhãn hiệu hàng hóa. Chính phủ và sự kiểm soát phẩm lượng hàng hóa.

Nhà cửa: Chọn nơi cư trú: nội thành, ngoại ô hay vùng quê. Thuê hay mua nhà. Mua mặt hay mua trả góp.  Các công ty địa ốc và quốc gia kiến ốc cuộc.

Bảo hiểm: Lợi ích của sự bảo hiểm đối với cá nhân và gia đình. Các công ty bảo hiểm.  Bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm tai nạn xe cộ, bảo hiểm lao động và linh tinh.

Khái niệm về thương luật: Quyền sở hữu. Quyền chuyển nhượng. Đoạn mãi hay mối liên quan giữa người bán và người mua. Giao kèo mua bán. Giao kèo thuê mướn. Ngân phiếu. Thương phiếu. Chúc thư.

Hoạt động kinh tế trong khu vực tư

Nông nghiệp:  Chế độ điền địa. Phương thức canh tác. Lợi tức trong ngành nông nghiệp. Mua bán các sản phẩm nông nghiệp. Hệ thống chuyên chở nông phẩm.  Mức tiêu thụ về nông phẩm trong nước. Các loại cây kỹ nghệ: cao su, bông vải, gai, dừa v.v... Mức tiêu thụ và việc xuất cảng.

Chăn nuôi và ngư nghiệp: Phương thức chăn nuôi và chài lưới. Lợi tức trong ngành. Mua bán các sản phẩm chăn nuôi và ngư nghiệp. Các hợp tác xã chăn nuôi và ngư nghiệp. Mức tiêu thụ trong nước.

Khai thác lâm sản và khoáng sản: Phương thức khai thác. Lợi tức trong ngành.  Mua bán các lâm và khoáng sản. Hệ thống chuyên chở. Mức tiêu thụ.

Tiểu công nghệ: Các ngành tiểu công nghệ. Phương thức sản xuất. Công nhân.  Lợi tức trong ngành. Mức tiêu thụ.

Kỹ nghệ chế biến: Các xí nghiệp. Phương thức sản xuất. Nguyên liệu. Công nhân.  Lợi tức trong ngành. Mức tiêu thụ các sản phẩm chế biến.

Thương mại và giao thông: Nội thương và ngoại thương. Buôn sỉ và buôn lẻ. Vai trò của ngành giao thông trong việc sản xuất, chế biến và phân phối hàng hóa.  Các phương tiện giao thông:  đường bộ, đường hàng không, đường thủy.

Ngân hàng: Tiền tệ và việc phát triển các hoạt động kinh tế về nông nghiệp, khai thác, kỹ nghệ, thương mại.  Ngân hàng, trung gian giữa giới đầu tư và các doanh nhân.

Hình thức tổ chức doanh nghiệp: Cá nhân điều khiển; công ty hợp danh; công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã.  Ưu và khuyết điểm của mỗi loại doanh nghiệp.

Hoạt động kinh tế ở khu vực công

Chính phủ và các dịch vụ có lợi ích công cộng: Giáo dục, y tế và công chánh, phát triển nông nghiệp, kỹ nghệ hóa nước nhà.  Các bộ liên hệ: bộ giáo dục, bộ y tế, bộ công chánh, bộ canh nông và phát triển nông thôn, bộ công kỹ nghệ.

Chính phủ và nhiệm vụ kiểm soát các xí nghiệp và các hoạt động kinh tế quốc gia: Chính phủ và việc nâng đỡ giới lao động. Nhiệm vụ trọng tài của chính phủ trong các cuộc tranh chấp giới chủ nhân doanh nghiệp và giới lao động hay các nghiệp đoàn đại diện. Chính phủ và sự điều hòa giá cả trên thị trường. Các bộ liên hệ:  bộ lao động, bộ kinh tế, bộ tài chánh.

Quốc hữu hóa các ngành hoạt động có lợi ích công cộng: Thủy điện,  vận tải công cộng, các công ty và xí nghiệp quốc doanh. Ưu và khuyết điểm của việc quốc hữu hóa.

Thuế vụ: Thuế vụ và sự tái phân phối các lợi tức cá nhân. Thuế vụ và sự thăng bằng cán cân chi phó quốc gia. Các loại thuế: thuế trực thu, thuế gián thu, thuế lợi tức, thuế sản xuất, thuế điền thổ, thuế nhà phố, thuế môn bài, thuế nhập cảng, thuế lưu hành xe cộ, v.v... Các thể thức đánh thuế.

Nhiệm vụ công dân về nặt kinh tế: Nhiệm vụ đóng thuế tùy theo khả năng tài chánh của mỗi người. Bổn phận công dân trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia: bảo vệ lâm sản, thủy sản, gìn giữ công ốc và công sản. Bổn phận công dân trong việc tận dụng nhân lực quốc gia: việc giải quyết nạn thất nghiệp. Tìm hiểu những chương trình và kế hoạch kinh tế dài hạn của chính phủ. Triển vọng của các quốc gia kém mở mang. 

V. Phương Pháp giảng dạy

Phương pháp giảng dạy môn kinh tế học cũng giống như phương pháp dạy môn Doanh Thương Tổng Quát. 

VI. Trợ Huấn cụ và tài liệu giáo khoa

Cũng giống như huấn cụ và tài liệu dùng dạy môn Doanh Thương Tổng Quát. 

MÔN ĐÁNH MÁY

I. Mục-đích

1. Giúp học sinh biết sử dụng một bàn máy chữ theo đúng phương pháp.

2. Phát triển nơi học sinh những tập tục đúng phép, kể cả khả năng theo đúng những lời chỉ dẫn, tổ chức lấy công việc và hoàn tất công tác với một số thời giờ và động tác tối thiểu.

3. Phát triển nơi học sinh những hiểu biết căn bản về Việt Ngữ ứng dụng trong việc trình bầy các tài liệu đánh máy thông thường.

4. Tổng hợp các kỹ năng đánh máy và các hiểu biết đã học hỏi để có thể trình bầy những tài liệu thông thường như đánh máy thư từ cá nhân hay thương mại, đánh máy công văn và những tài liệu nhiều cột số. 

II. Môn học nên dạy ở cấp và lớp nào

Lớp đầu tiên của môn đánh máy có thể gọi là lớp thực dụng hoặc là lớp sơ cấp tùy theo thời gian giảng dạy và cũng tùy theo các bài áp dụng trong lớp.

Lớp thực dụng hay sơ cấp có thể được dạy trong những lớp từ đệ tứ trở lên: điểm này tùy thuộc vào việc học sinh có thể xếp đặt chương trình thế nào cho thuận tiện.  Lớp này có thể là môn nhiệm ý hay bắt buộc cho tất cả các học sinh.

Lớp đánh máy trung cấp là lớp chuyên nghiệp và là môn bắt buộc  cho tất cả các học sinh chọn ban doanh thương.  Lớp này nên dạy đệ tam và tất cả học sinh phải qua được lớp này mới được nhận vào lớp huấn luyện thư ký văn phòng. 

III. Thời gian khóa học

Lớp trung cấp có thể được dạy trong một niên khóa – 3 giờ 1 tuần nếu học sinh đã theo học lớp sơ cấp hay thực dụng cả một niên khóa, hoặc dạy 5 giờ một tuần nếu học sinh theo học lớp sơ cấp trong một lục cá nguyệt thôi.

Lớp thực dụng hay sơ cấp có thể được dạy trong một lục cá nguyệt hay một niên khóa -  dạy 3 giờ 1 tuần. 

IV. Chương trình

Những sự hiểu biết căn bản về máy chữ 

      1. Những bộ phận của máy chữ
      2. Khổ giấy đánh máy thông thường, số đập và số giòng
      3. Lắp giấy và tháo giấy.  Cách đặt lề
      4. Thế ngồi của người đánh máy

Học mặt chữ và dấu

Hàng căn cứ và những chữ (u) và (e)

Những chữ (g)(h) và nút chữ hoa tay trái

Những chữ và dấu (i) (t) (r) (^) (_) và nút chữ hoa tay phải

Những chữ và dấu (o) (c) (n) (_)

Bài học ôn

Những chữ và dấu (đ) (y) (v) (_) (_)

Những chữ và dấu (a) (,) (.) (;) (x)

Bộ phận xóa cột –- Bộ phận đặt cột –- Thanh phóng máy

Đánh thụt đầu giòng

Những chữ và dấu (p) ($)

Những chữ (ă) (f) (j) (z) (w)

Bài học ôn

Phát triển kỹ năng đánh bền bỉ

Sử dụng thanh cách chữ và đánh cách khoản

Phát triển kỹ năng đánh bền bỉ

Phương pháo đánh các cột

Phát triển kỹ năng và thí dụ về phương pháp đánh các cột 

Học con số và những dấu đặc biệt

Những chữ số (5) (9) (0) (1)

Những chữ số (3) (6) (8)

Những chữ số và dấu (4) (7) (2) (/)

Dấu ngoặc đơn “( )“.  Dấu viết lược (‘).  Dấu chấm hỏi(?)

Dấu gạch nối (–)

Dấu hai chấm (:). Dấu gạch dưới (_).  Dấu ngoặc đôi (“)

Dấu chấm than (!).  Dấu phần trăm (%) 

Phát triển kỹ năng

Luật đánh cách trước và cách sau các dấu

Vài dấu đặc việt

Cách giữ gìn máy chữ

Cách thức tẩy và sửa chữa những chữ sai lầm

Phương pháp trình bày cho cân đối và phát triển kỹ năng

Trình bày cho cân đối theo chiều ngang

Thí dụ và áp dụng

Bài tập về trình bày cân đối theo chiều ngang: Bài tập 1

Bài tập về trình bày cân đối theo chiều ngang: Bài tập 2

Tập nghe chuông báo sắp cuối giòng

Bài tập về trình bày cân đối theo chiều dọc: Bài tập 1

Bài tập về trình bày cân đối theo chiều dọc: Bài tập 2

Cách thức tẩy xóa và sửa chữa những chữ sai lầm. Tẩy bản phụ

Học ôn: Những bộ phận của máy chữ.  Khổ giấy đánh máy thông thường, số đập và số giòng. Lắp giấy và tháo giấy. Cách đặt lề. Thế ngồi của người đánh máy.

Học đánh lại tất cả các nút chữ, các dấu, các chữ số, các dấu đặc biệt. Sử dụng thanh cách chữ để đánh cách khoản. Phương pháp đánh các cột.  Luật đánh cách trước và cách sau các dấu. Cách thức tẩy và sửa chữa những chữ sai lầm. Cách giữ gìn máy chữ.

Trình bày cân đối theo chiều ngang. Trình bày cân đối theo chiều dọc. Cách thức tẩy bản phụ. Tập nghe chuông báo sắp cuối giòng.

 Phương pháp đọc bản thảo và sửa chữa: Những dấu đặc biệt khi đọc bản thảo: dấu xóa bỏ, dấu thêm vào, dấu khích lại, dấu cách khoản hay giòng đôi, dấu chữ hoa, dấu chuyển sang bên trái, dấu chuyển sang bên phải, dấu đổi chỗ. Cách thức tẩy và sửa chữa những chữ sai lầm: đánh lại một chữ đánh sai hay nhạt mầu khi giấy đã tháo ra khỏi máy hoặc còn ở trong máy; cách đánh một chữ dài hơn hay ngắn hơm một chữ đã tẩy xóa. 

Phương pháp trình bày thư riêng: Các thể thư. Các phần trong thư. Cách trình bầy các phần trong thư trên giấy đánh máy. Cách chấm câu. Cách trình bầy phong bì.  Thư riêng: thể Bloc, không chấm câu. Đánh thư riêng và phong bì theo mẫu in. Đúng cách. Đánh thư riêng và phong bì theo mẫu in thường.  Phương pháp xếp thư và để thư vào phong bì. Phương pháp đánh máy chữ trên giấy có những đường kẻ sẵn. Phương pháp kẻ những đường ngang và dọc bằng bút chì khi giấy còn ở trên máy.

Trình bày dàn bài hay bài tiểu luận có ghi chú: Trình bầy dàn bài theo mẫu in đúng cách hay theo mẫu viết tay với nhiều lỗi cần sửa chữa. Trình bày bài luận một trang với lời ghi chú. Trình bầy bài luận gồm nhiều trang. Trình bầy trang tựa. Sử dụng giòng cách.  Sử dụng cần thả lỏng trục quay giấy.

Trình bày các bảng có nhiều cột số: Trình bầy các bảng có nhiều cột số bằng phương pháp dùng nút giật lùi. Trình bầy đầu đề chính và đầu đề phụ. Trình bầy một bảng với đầu đề của các cột. Trình bầy cân đối bằng phương pháp dùng nút giật lùi.

Phương pháp trình bày thư thương mại: Thể sơ-mi-bloc, thẳng đầu giòng, dấu chấm câu, trình bày trên giấy có tiêu đề. Thể sơ-mi-bloc, thụt đầu giòng, dấu chấm câu, trình bầy trên giấy không có tiêu đề. Phong bì theo mẫu in đúng cách và theo mẫu in thường. Cách xếp thư và để thư vào phong bì khổ thương mại. Thư thương mại có kèm theo bảng có nhiều cột. 

Trình bày các bảng theo phương pháp số học:  Trình bầy một bảng theo phương pháp số học. Kẻ bảng. Bảng có kẻ dọc và kẻ ngang.

Phương pháp trình bày công văn: Mô tả mẫu công văn duy nhất. Cách đặt máy để đánh công văn theo mẫu duy nhất. Mô tả các bảng trình bầy công văn.

Sử dụng máy chữ trong những công tác đặc biệt: Cách đánh giấy sáp để quay ronéo; cách sửa chữa những lỗi trên giấy sáp. Viết bản thảo bằng máy chữ.  Trình bầy văn thư qua sự ứng khẩu của người khác.  Cách giữ gìn máy chữ và cách thay băng mực.

V. Phương Pháp giảng dạy

Để có thể phát triển đầy đủ tất cả khả năng của học sinh về môn đánh máy, huấn luyện viên cần lưu ý đến những điểm sau đây:

1. Luôn luôn nhắc nhở học sinh đánh máy theo đúng phương pháp giảng dạy

i. Khi bắt đầu học một nút chữ mới, học sinh có thể nhìn thoáng qua các hàng nút chữ. Như thế, học sinh sẽ ghi nhớ một cách rõ ràng trong tâm trí vị trí của nút chữ mới. Sau đó học sinh sẽ không nhìn vào các hàng chữ nữa và sẽ dùng ngón tay để định hướng nút chữ mới.

ii. Ngay từ bước đầu, huấn luyện viên phải tập cho học sinh đánh máy một cách nhẹ nhàng và đều đặn. Bàn máy phải di chuyển một cách liên tục, nhanh nhẹn khi đánh những chữ dễ dàng, chậm rãi và cẩn thận khi đánh những chữ khó khăn hơn.

iii. Trong những bài tập đầu của phần phát triển kỹ năng, huấn luyện viên cần quan sát học sinh một cách thường xuyên để chỉ bảo cho học sinh những kỷ năng cần sửa đổi cho đúng phương pháp; những kỹ năng ấy gồm có: thế ngồi đánh máy, vị trí của các ngón tay, bàn tay, cánh tay trong khi đánh máy, công-dụng của thị-giác, cách đánh nút chữ, nhịp-độ đánh máy và cách ngồi nghỉ. 

2. Huấn luyện viên nên phân tách những động tác cần phát triển và mỗi lần chỉ nên huán luyện một động tác mà thôi

Huấn luyện viên cần làm thế nào để tất cả học sinh hiểu rõ mục đích của mỗi bài tập, bài tập ấy phải được làm như thế nào, và sẽ được chấm điểm theo những tiêu chuẩn nào.

Những bài tập ngắn được cho thực tập một cách đều đặn sẽ mang lại nhiều kết quả hơn là những bài tập quá dài nhưng bất thường.

Những kỹ thuật đánh máy phải được trình bầy cho cả lớp thấy trước khi học sinh tật dượt lấy:

      1. Những động tác phải được huấn luyện viên hoạch định và dượt trước khi đem ra trình bày.
      2. Sau khi đã trình bày cho cả lớp thấy, huấn luyện viên cần theo dõi động tác của từng cá nhân một và sửa chữa nếu cần. 

3. Chú trọng đến tốc độ và sự chính xác

a. Tốc độ và sự chính xác cần được phát triển như nhau nhưng trong 1 bài tập chỉ nên chú trọng đến một trong hai ưu điểm ấy thôi.

b. Tốc độ và sự chính xác chỉ có thể phát triển bằng cách lập lại nhiều lần những bài tập mà học sinh đã quen thuộc.

c. Những bài tập về tốc độ đánh trong thời gian từ 1 đến 5 phút phải được sử dụng rất thường xuyên trong giai đoạn “phát triển kỹ năng”. Học sinh phải tập đánh cho thuần-thục những chữ khó trong những bài tập này.

Huấn luyện viên cần giúp học sinh phân tách những lỗi lầm của mình và giúp học sinh sửa chữa những lỗi lầm của họ. Mỗi học sinh cần ghi chú lấy tốc độ và kết quả về sự chính xác của những bài đánh máy của mình để có thể so sánh hầu biết được những sự tiến triển của riêng cá nhân mình.

Huấn luyện viên có thể đọc những đoạn văn ngắn cho học sinh đánh máy. Những bài ám-đọc gồm có những chữ số và những câu ngắn sẽ nâng cao tốc độ đánh máy của học sinh. 

4. Chú trọng đến việc áp dụng vào những hoạt động thiết thực

a. Huấn luyện viên khuyến khích học sinh sử dụng bàn máy để đánh lấy thư từ cá nhân, thảo lấy những dàn bài học hay để làm những bài luận do các giáo sư các môn khác ra bài. Học sinh có thể sử dụng những bản giấy nháp hoặc tự nghĩ ra rồi đánh ngay vào giấy đánh máy.

b. Học sinh phải học cách tẩy xóa và sửa chữa khi bắt đầu ứng dụng khả năng đánh máy của mình vào những hoạt động có lợi ích thiết thực trên.

5. Phát triển nơi học sinh những hiểu biết liên quan đến môn đánh máy

a. Chánh tả phải được huấn luyện viên lưu ý khi dạy học sinh đánh máy.

b. Tập cho học sinh quen dần với những danh từ thông dụng trong ngành đánh máy nhất là danh từ chuyên nghiệp của ngành doanh thương. 

6. Chú ý đến sự phát triển khả năng của từng học sinh

a. Huấn luyện viên phải lưu ý đến sự khác biệt không tránh khỏi giữa các học sinh trên bình diện khả năng cá nhân.

b. Mỗi học sinh phải được khuyến khích để tiến tới tốc độ tố đa của mình.  Cần cho những học sinh giỏi làm thêm bài tập và hạn-chế số bài tập đối với học sinh kém về môn học này.

c. Huấn luyện viên nên đặt cho mỗi học sinh một mức độ mà các em có thể đạt đến được một cách tương đối dễ-dàng.  Khi học sinh đã thâu đạt được kết quả mong muốn, huấn luyện viên sẽ đặt cho các em một mức độ mới.  Như thế học sinh sẽ không chán nản và sẽ cố gắng làm hết sức mình. 

7. Sử dụng các dụng cụ thính thị

Những tài liệu và dụng cụ thính thị có thể dùng để giúp cho việc giảng dạy môn đánh máy chữ gồm có: Tranh ảnh in trên các sách giáo khoa, tranh ảnh sưu tầm để trình bày trên bảng gỗ, bảng đồ thị, những họa đồ đơn giản, hình ảnh khổ lớn do các hiệu buôn ấn hành, phim ảnh, những cuộc du-khảo, những buổi trình bày phương pháp đánh máy do học sinh, huấn luyện viên hoặc những chuyên viên và những thư ký đánh máy rành nghề đảm trách. 

VI. Trợ Huấn cụ và tài liệu giáo khoa 

-   Sách giáo khoa

-   Bài tập phụ

-   Tranh ảnh về vị trí các nút chữ, về thế ngồi của người đánh máy, và về các bộ phận của máy chữ

-   Bảng trưng bày các tài liệu sưu tầm

-   Mẫu in sẵn và tài liệu dùng trong văn phòng 

HUẤN LUYỆN THƯ KÝ VĂN PHÒNG I VÀ II 

I. Mục-đích 

1. Ôn tập và trau giồi những năng khiếu học ở lớp đánh máy dạy trong năm đệ tam.

2. Huấn luyện về phương pháp làm việc nơi văn phòng, nhất là về những năng khiếu và những hiểu chưa học đến.

3. Phát triển nơi học sinh những đức tính cá nhân, những tập tục đúng phép cùng những cách cư xử khéo léo mà học sinh sẽ cần đến khi ra làm việc tại các văn phòng.

4. Tổng hợp tất cả những năng khiếu và hiểu biết đã huấn luyện để tạo nơi học sinh một căn bản vững chắc và hữu dụng khi vào làm việc tại văn phòng. 

II. Môn học nên dạy ở cấp và lớp nào

Môn huấn luyện thư ký văn phòng là môn học cuối của chương trình trung học nên được giảng dạy ở lớp đệ nhọ và đệ nhất:

Huấn luyện thư ký văn phòng I ở lớp đệ nhị và

Huấn luyện thư ký văn phòng I ở lớp đệ nhất 

III. Thời gian khóa học

Mỗi lớp (Huấn luyện thư ký văn phòng I cũng như Huấn luyện thư ký văn phòng II) sẽ được dạy suốt niên học và mỗi tuần học 3 giờ.

 IV. Chương trình và phương pháp huấn luyện

Công việc văn phòng: Nhu cầu về nhân viên văn phòng tại các công tư sở và xí nghiệp.  Những công việc thường xuyên nơi văn phòng. Những năng khiếu cá nhân cần thiết.

Công việc đánh máy nơi văn phòng: Những công việc thường xuyên của người thư ký đánh máy.  Ấn chỉ, giấy đánh máy; cách sắp xếp tài liệu và dụng cụ đánh máy. Thư từ, bì thư và cách trình bầy thư tín. Cách thảo văn thư. Sách tham khảo dùng trong văn phòng.  Những tài liệu cần viết tay.

Hệ thống liên lạc nơi văn phòng: Điện thoại và dịch vụ điện thoại. Điện tín nội địa, điện tín quốc tế và vô tuyến điện. Thông tin bằng thư từ. Hệ thống thông tin nội bộ.

Chuyển công văn: Thư nhận được và thư gửi đi. Dịch vụ bưu điện và cước phí bưu điện.  Danh sách những khách hàng cần liên lạc.

Lưu trữ hồ sơ: Dụng cụ dùng trong văn phòng lưu trữ. Hồ sơ cá nhân. Hồ sơ doanh nghiệp. Phương pháp lưu trữ: Tham khảo, tra cứu, theo dõi, di chuyển hồ sơ. Lưu trữ theo phương pháp mẫu tự, theo địa danh, số thứ tự hay theo đề mục. Hệ thống lưu trữ theo lối phát âm (Soundex System); sử dụng thẻ bìa cứng để lưu trữ.

Các loại máy tính: Những đặc tính chung và công dụng của những
loại máy tính thông thường. Cách sử dụng một vài loại máy tính thông dụng.

Các loại máy in ronéo: Những đặc tính chung và công dụng của những loại máy in ronéo thông thường. Cách sử dụng một vài loại máy in ronéo thông dụng.

Các loại máy ghi âm dùng trong văn phòng: Những đặc tính chung và công dụng của những loại máy ghi âm thông thường dùng trong văn phòng (transcribing machines, dictaphones). Cách sử dụng một vài loại máy ghi âm thông dụng nói trên.

Lưu trữ hồ sơ phần thực hành: Học sinh sẽ được chia ra nhiều toán nhỏ để thực hiện về môn lưu trữ hồ sơ đã được dạy phần lý thuyết ở chương V.

Công việc nơi phòng trung ương: Người thư ký tiếp khách. Phân loại các khách hàng đến tiếp xúc với chủ nhân. Bổn phận người thư ký tiếp khách đối với chủ nhân và khách hàng.

Cách trang sức, cử chỉ và đức tính cần thiết nơi người thư ký văn phòng: Cách trang sức: sạch sẽ về bản thân; y phục: tươm tất, gọn gàng và sạch sẽ. Cử chỉ và cách ăn nói: khéo léo trong nọi trường hợp, nhã nhặn, từ tốn, biết phép xã giao, biết hợp tác với mọi nhân viên trong cơ sở.

Đức tính cần thiết: Cần mẫn: tỏ ra siêng năng và có đủ năng lực trong nhiệm vụ giao phó; cẩn thận: biết theo đúng chỉ thị (khẩu lệnh và bút lệnh); sáng kiến: giải quyết những vấn đề khó khăn một cách lanh lẹ (lanh trí); tín nhiệm: đúng hẹn, được tin cẩn, trung thành với đường hướng của cơ sở.

Hoạt động riêng biệt của các cơ quan trong xí nghiệp: Cơ quan mua hàng. Cơ quan bán hàng. Cơ quan cấp tín dụng (bán chịu). Cơ quan tiếp thu, tồn trữ và giao hàng. Phòng kế toán. Phòng nhân viên.

Thực tập:  Một hoạt động tổng hợp tất cả những hiểu biết và năng khiếu đã học qua.

Tìm việc:  Hoạch định trước một nghề hợp với khả năng. Thể thức xin việc làm. 

Thăng tiến trong nghề: Năng khiếu cá nhân cần thiết. Đường tiến thủ. Tự điều khiển lấy một xí nghiệp nhỏ.

V. Phương Pháp giảng dạy

1. Phương pháp thông thường.-Một phần chương trình được giảng dạy theo phương pháp thông thường nghĩa là tất cả học sinh sẽ được huấn luyện như nhau, cùng một lúc và cùng một đề tài. Phương pháp “chủ đề” – một vấn đề cho mỗi chương học- cần được áp dụng khi huấn luyện. Một vài nguyên tắc về phát triển kỹ năng dạy ở môn đánh máy sẽ được đem áp dụng ở môn này. Học sinh sẽ sử dụng máy chữ để trình bày bài tập của mình; vì thế huấn luyện viên phải xử dụng phòng học đánh máy để dạy học.

2. Phương pháp luân chuyển.- Vì số máy móc trang bị nơi lớp học có hạn nên phần mục chương trình dạy phải theo phương pháp luân chuyển. Như vậy có nghĩa là một lớp học sẽ được chia ra thành từng nhóm nhỏ và mỗi nhóm sẽ học một loại máy hay dụng cụ; sau một thời gian các nhóm sẽ luân chuyển đến học các loại máy hoặc dụng cụ khác cho đến khi nào toàn thể học sinh đều học qua và biết xử dụng tất cả các loại máy dùng trong việc huấn luyện.

3. Phương pháp điển cứu.- Phương pháp này sẽ được dùng trong phần huấn luyện tác phong nhân viên.  Đọc từng chương dài về những đức tính cá nhân cần thiết khi làm việc trong văn phòng sẽ không đem lại nhiều kết quả bằng cách phân tích từng trường hợp và đề nghị một vài giải pháp dựa theo sự hiểu biết những nguyên tắc có ảnh hưởng đến tác phong của con người.

4. Những điều nên nhớ:

-   Cố tạo những hoàn cảnh thuận tiện để học sinh có thể đóng vai trò người thư ký trong một cơ sở hầu diễn tả được những cử chỉ và đức tính cần thiết trong nghề.

-   Chú trọng đến những bài thực tập để học sinh hiểu qua những hoạt động riêng biệt của từng cơ quan một.

-   Một trong những mục tiêu chính yếu của môn này là phát triển nơi học sinh những cá tính cần thiết cho mọi nhân viên công và tư sở.  Nếu có thể được, huấn luyện viên nên cố tạo cho học sinh có được nhiều cơ hội để phát triển sáng kiến cá nhân và thâu thập được tất cả những hiểu biết liên quan đến những chương đã học ngõ hầu tổng hơp lại tất cả những năng khiếu riêng rẽ đã học từ trước.  Hoạch định chương trình huấn luyện theo từng chương mục sẽ thâu được nhiều kết quả hơn là những bài soạn hàng ngày.

VI. Trợ Huấn cụ và tài liệu giáo khoa

-   Sách giáo khoa

-   Phiếu thực tập

-   Bảng trưng bày

-   Phương pháp điển cứu

-   Những tài liệu bằng tranh ảnh của các cơ quan chính phủ và xí nghiệp. 

MÔN KẾ TOÁN

I. Mục-đích

      1. Giúp cho học sinh nhận định được tầm quan trọng của môn kế toán trong đời sống cá nhân, tổ chức doanh nghiệp, cơ quan chánh quyền và trong sự cân bằng cán cân chi phó của quốc gia.
      2. Giúp cho học sinh thấu hiểu những tổ chức xí nghiệp khác nhau, những cơ cấu và những khía cạnh kinh tế, luật pháp, xã hội của mỗi loại.
      3. Trình bày những nghiệp vụ căn bản trong các ngành doanh thương.
      4. Huấn luyện những nguyên tắc kế toán thường dùng, những phương pháp phân tách và đăng ký các nghiệp vụ doanh thương thông thường.
      5. Giúp cho học sinh biết qua những ấn chỉ và tài liệu dùng trong ngành kế toán và công dụng của mỗi loại.
      6. Huấn luyện cho học sinh biết soạn thảo những bảng tường trình trong ngành doanh thương hay những bảng tình hình tài chánh.
      7. Phát triển nơi học sinh những tập tục đúng phép, những đức tính cần thiết trong nghề kế toán.
      8. Tập cho học sinh biết suy nghĩ chính chắn và diễn tả tư tưởng một cách gọn gàng.
      9. Tạo nơi khả năng và điều kiện có thể học hỏi thêm hoặc tiến xa hơn trong nghành kế toán.

 II. Môn học nên dạy ở cấp và lớp nào

Kế toán là môn học hướng nghiệp cần được dạy ở các lớp cuối cùng bậc trung học đệ nhị cấp: môn Kế toán I ở lớp đệ nhị và môn Kế toán II ở lớp đệ nhất.  Môn Kế toán I là môn bắt buộc cho tất cả học sinh chọn ban Doanh thương và là môn nhiệm ý cho các học sinh ở các ban khác.

III. Thời gian khóa học

Mỗi môn (Kế toán I cũng như Kế toán II) sẽ được dạy suốt niên học và mỗi tuần học 3 giờ.

IV. Chương trình học:

KẾ TOÁN I

Định nghĩa kế toán: Kế toán là một học thuật. Công dụng và vị trí của môn kế toán trong lãnh vực kinh doanh.  Kế toán đơn và kế toán kép.

Khởi đầu một hệ thống kế toán: Đối chiếu biểu: tích sản và tiêu sản.  Phân tích một đối chiếu biểu.  Phương trình căn bản kế toán.

Sổ nhật ký và bút toán khai sổ: Hình thức và công dụng của sổ nhật ký. Tá phương và tải phương.  Đăng ký vào nhật ký đối chiếu biểu sơ khởi.

Đại tập và bút toán khai sổ: Hình thức và công dụng của đại tập (số cái) và các trương mục.  Đăng ký vào đại tập khi khai sổ.

Đăng ký những biến dịch của các chương mục thuộc phần tích sản và tiểu sản: Giao dịch, thời gian: nguyên nhân của sự biến dịch đối với các trương mục.  Nhật ký đa khoản với các cột đặc biệt.  Đăng ký các nghiệp vụ: tá ghi và thải ghi; tăng và giảm trong hệ thống kế toán ghép.

Đăng ký các khoản phí tổn và lỗ lãi: Đăng ký các phí tổn; đăng ký các khoản lỗ lãi.  Kiểm soát sự chính xác của các khoản ghi trên nhật ký.  Cách đính chính những sai lầm tìm thấy trên nhật ký.

Đăng ký vào đại tập và hoạch đồ trương mục kế toán: Đăng ký các nghiệp vụ vào đại tập.  Cách đánh số các trương mục trên đại tập.  Nhật ký và đại tập sau khi đã được đăng ký.

Chứng minh sự chính xác của các khoản đăng ký đại tập: Chứng minh ngân quỹ.  Kết toán các trương mục trong đại tập và lập bản cân số.  Đính chính các sai lầm tìm thấy trong đại tập.

Bế mục đại tập và thủ tục chuyển ký các sai ngạch trương mục: Trương mục tóm lược lỗ lã: công dụng.  Kế toán các trương mục phí tổn và trương mục lợi tức; chuyển ký các sai ngạch của trương mục phí tổn và trương mục lợi tức vào trương mục tóm lược lỗ lãi.  Trương mục doanh nhân.  Bảng cân số lập sau khi chuyển ký các sai ngạch trương mục.

Khai thác biểu: Công dụng của bảng cân số trong khi thành lập khai thác biểu. Công dụng của khai thác biểu: các cột lỗ lãi và việc chuyển ký các khoản lợi tức và phí tổn; các cột đối chiếu biểu và việc chuyển ký các mục tích sản và tiêu sản.  Sự cân bằng các cột trên khai thác biểu.

Các bảng kê tình hình tài chánh: Hình thức và công dụng của bảng lỗ lãi.  Hình thức và công dụng của đối chiếu biểu.

Mua hàng chịu và sổ nhật ký mua hàng: Hình thức và công dụng của sổ nhật ký mua hàng.  Trương mục khả chi (người cấp). Đại tập tổng vụ và đại tập phụ thuộc (sổ cái và sổ phụ).  Đại tập phụ thuộc và sự kết hợp các trương mục khả chi.  Sử dụng hóa đơn mua hàng thay thế cho sổ nhật ký mua hàng.

Đăng ký những nghiệp vụ phát ngân: Nhật ký ngân quỹ – chi: hình thức và công dụng.  Nghiệp vụ phát ngân bằng tiền mặt và bằng chi phiếu.  Chi phí cho doanh nghiệp.  Các khoản thu hồi ngân quỹ của doanh nhân (chủ doanh nghiệp). Đăng ký đại tập các nghiệp vụ ghi trên nhật ký ngân quỹ – chi.  Bảng kê các trương mục khả chi (người cấp).

KẾ TOÁN II

Học ôn: Sổ nhật ký, tá và thải phương. Đại tập. Khai thác biểu và các bảng kê tình hình tài chánh: bảng lỗ lãi và đối chiếu biểu.

Bán hàng chịu và sổ nhật ký bán hàng: Phiếu bán hàng. Đăng ký các khoản bán hàng: bán trả tiền mặt và bán chịu. Trương mục khả thu (khách hàng). Đại tập phụ thuộc và sự kết hợp các trương mục khả thu. Sử dụng hóa đơn bán hàng thay thế cho sổ nhật ký bán hàng.

Đăng ký những nghiệp vụ thu ngân: Nhật ký ngân quỹ – thu: hình thức và công dụng. Đăng ký đại tập các nghiệp vụ ghi trên nhật ký ngân quỹ – thu. Chứng minh ngân quỹ hiện hữu. Bảng kê các trương mục khả thu (khách hàng). Phiếu trích lục trương mục khách hàng.

Nhật ký tổng vụ: Nhật ký tổng vụ và các nghiệp vụ linh tinh. Khoản ghi tu chính các nghiệp vụ ghi sai. Khoản ghi kết thúc vào cuối niên độ hay vào cuối thời khóa.

Khai thác biểu có tu chính: Sự cần thết phải tu chính những nghiệp vụ đã đăng ký: hàng hóa tồn kho, phí tổn trả trước v.v... Khai thác biểu có cột tu chỉnh.  Chuyển mục các sai ngạch trên khai thác biểu.

Các bảng tường trình tài chánh: Công dụng của khai thác biểu trong việc lập các bảng kê tình hình tài chánh. Lãi và lỗ thuần tịnh, thuế lợi tức. Đối chiếu biểu và các bảng kê tình hình tài chánh. 

Bút tích tu chỉnh và bút tích bế mục: Đăng ký những khoản tu chỉnh vào nhật ký tổng vụ và đại tập: hàng hóa tồn kho, vật-liệu tồn kho, phí tổn trả trước, v.v... Các khỏan ghi bế mục: sự cần thiết; cách đăng ký. Bảng cân số sau khi bế mục.

Nhật ký phối hợp và quỹ tạp chi: Nhật ký phối hợp: hình thức và công dụng. Việc đăng ký vào đại tập.  Quỹ tạp chi: việc thiết lập, cách sử dụng. Đăng ký các nghiệp vụ liên quan đến quỹ tạp chi. Cách thức bổ sung quỹ tạp chi.

Công ty hợp danh: Định nghĩa và đặc tính. Chứng thư thành lập công ty: phần hùn của mỗi hội viên, cách thu nhận thêm hội viên mới, cách chia lời, giải tán v.v... Bút tích hùn vốn, bút tích nhận thêm một hội viên mới hoặc tăng vốn, bút tích chia lãi lỗ.  Ưu và khuyết điểm của công ty hợp danh.

Công ty trách nhiệm hữu hạn: Định nghĩa và đặc tính. Điều lệ thành lập công ty: thời hạn, vốn, số cổ phần, mục đích thành lập công ty, quản lý, chia lời v.v... Bút tích thành lập công ty, bút tích phân chia cổ phần, bút tích chia lãi lỗ và cổ tức, bút tích tăng vốn.  Ưu và khuyết điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn.

So sánh hai hệ thống kế toán Pháp và Mỹ: Sổ nhật ký, đại tập, các bảng tình hình tài chánh được trình bày và sử dụng như thế nào trong hai hệ thống trên.  Ưu và khuyết điểm của mỗi hệ thống.

V. Những điều cần ghi nhớ trong khi giảng dạy môn kế toán

-    Học viên thường đạt được kết quả mong muốn khi họ được khuyến khích trong việc làm của họ.  Huấn luyện viên cần tìm những điểm nào đáng khen cũng như điểm cần bổ cứu và nên nhớ rằng nếu các học viên có một vài lỗi trong khi ghi các bút tích thì ngược lại họ đã ghi thật chính xác phần lớn các bút tích khác.  Huấn luyện viên không nên phóng đại những lỗi lầm nhỏ của học viên.

-    Huấn luyện viên không nên giảng dạy quá nhanh trong những bài học đầu.  Chỉ khi nào các học viên thông suốt những nguyên tắc căn bản dạy trong những bài học đầu tiên, họ mới có cơ hội tiến triển trong môn học nầy.

-    Những điểm trọng yếu cần được nhắc đi nhắc lại, tuy nhiên huấn luyện viên cần phải ứng dụng những điểm ấy trong những trường hợp khác nhau, trong những bài tập khác nhau để học viên khỏi phải nhàm chán.

-    Sau mỗi phần giảng dạy, huấn luyện viên cần tóm lược đại ý trước khi qua một phần khác.

-    Luôn luôn ôn lại những điều đã học và đem ứng dụng vào những trường hợp mới.

-    Khi bắt đầu dạy đến các trương mục, luôn luôn nhắc học sinh tìm hiểu tại sao phải tá ghi trương mục nầy và thải ghi trương mục kia.  Lý do và tại sao cũng quan trọng như phương thức và cách thức ghi các bút tích.  Làm thế sẽ giúp học viên hiểu thấu bằng cách suy luận hơn là bằng cách học thuộc lòng.  Đồng thời nhắc học viên xếp loại các trương mục hầu học viên có thể hệ thống hóa sự hiểu biết của mình.  Huấn  luyện viên cần bổ túc bài dạy hay sách dạy bằng cách mang vào hay cho học viên mang vào lớp học những tài liệu kế toán như chi phiếu, trích lục trương mục chi phiếu, hoá đơn, các bảng kê tình hình tài chánh, phiếu bán hàng và các tài liệu kế toán khác,  Nếu cần, huấn luyện viên nên có 1 tập sưu tầm các tài liệu trên.

-    Nên có một bảng trưng bày các tài liệu kế toán và cần thiết nhất là phải luôn luôn cập nhật hoá bảng nầy.

-    Huấn luyện viên cần giảng bài trước rồi mới bảo học viên học bài và làm bài tập sau.  Như thế sự học hỏi thâu được nhiều kết quả hơn.

-    Huấn luyện viên cần sử dụng bảng đen và các trợ huấn cụ khác để bổ túc phần giảng dạy trong lớp.  Khi dùng bảng đen, huấn luyện viên phải viết phấn cho rõ ràng, không nên viết quá nhỏ hay quá mờ.

-    Bài tập phải được hoạch định cẩn thận trược khi cho học viên làm.  Ra bài làm cho học viên một cách hấp tấp sẽ không mang lại những kết quả mong muốn.  Thời gian dùng làm bài phải được nghiên cứu kỹ lưỡng.  Các bài tập phải được các học viên nộp đúng hẹn để huấn luyện viên có thể sửa bài nhanh chóng và cũng để tập cho học viên những tập tục đứng đắn.

-    Số bài tập ra cho các học viên kém trong lớp phải vừa với khả năng của họ.  Đối với những học viên giỏi, huấn luyện viên có thể cho thêm những bài hợp với khả năng của họ.

-    Bởi vì các xí nghiệp sử dụng những hình thức khác nhau để đăng ký các nghiệp vụ tài chánh, huấn luyện viên luôn luôn lưu ý các học viên rằng các nguyên tắc kế toán không thay đổi dù những phương pháp áp dụng thay đổi tùy mỗi nơi.

-    Huấn luyện viên phải cố gắng thuyết phục ban giám đốc của học viện hay của trường sở để cho học viên được góp phần vào việc giữ sổ sách kế toán tài chánh của học viện hay của trường sở.

-    Tập cho học viên thói quen làm việc có khoa học, có tổ chức và đừng làm mất thời giờ vô ích.

-    Phòng học phải được trang bị với máy tính để học viên sử dụng như đang làm việc trong văn phòng kế toán. 

VI. Trợ Huấn cụ và tài liệu giáo khoa

-   Sách giáo khoa

-   Sổ sách và tài liệu kế toán

-   Bảng đen

-   Báo chí và nguyệt san

 

(Trở lại)

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates