Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Chương Trình Học

(Trích từ tập Lược Sử KMTĐ của Gs. Phạm văn Quảng và Gs. Dương thị Kim Sơn)

CHƯƠNG TRÌNH

Một trong những mục tiêu của trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức là nghiên cứu và kiểm nghiệm một chương trình giáo dục mới thích ứng với nhu cầu và điều kiện của học đường Việt Nam. Nói dến chương trình giáo dục, thiết tưởng cần phải quan niệm một cách rộng rãi, không phải chỉ gò bó trong phạm vi chật hẹp của chương trình các môn học, mà bao gồm tất cả những chương trình hoạt động của nhà trường, nhằm đào luyện con em trên ba phương diện: Trí, Đức, Thân, hầu thực hiện những mục tiêu chung của nền giáo dục Việt Nam. Trên quan điểm ấy, chương trình giáo dục của trường Trung Học Kiểu Mẫu, ngoài những hoạt động thường có tại các học đường trung học khác, còn cần phải đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu và kiểm nghiệm.

CHƯƠNG TRÌNH CÁC MÔN HỌC

I. Soạn thảo chương trình

Trong các niên khóa từ 1965 đến 1968, trường đã áp dụng một chương trình có tính cách đoản kỳ nghĩa là chương trình được soạn một cách dò dẫn cho từng niên học. Đến cuối niên khóa 1967-68, Hội Đồng Giáo Sư của trường đã hoàn tất việc soạn thảo một chương trình qui mô từ lớp 6 đến lớp 12, và chương trình này được đệ trình Hội Đồng Khoa Đại Học sư Phạm Sàigòn và đem áp dụng từ niên khóa 1968-1969.

Sau đó, hàng năm có một số môn học như: Toán, Khoa học thực nghiệm,... được cập nhật hóa.

Chính Hội Đồng Giáo Sư đã quyết định về sự phân phối giờ giữa các môn và sau sự phân ban chuyên khoa ở Đệ nhị cấp. Các tiểu ban từng môn học đã soạn thảo và quyềt định nội dung chương trình từng môn học từ lớp 6 đến lớp 12, sau khi tham khảo chương trình môn học của giáo dục phổ thông, chương trình học khóa của một số quốc gia trên thế giới, căn cứ vào thực tại của xứ sở và phối hợp với các ban liên hệ.

Một thí dụ cho thấy sự vất vả và cẩn trọng của việc soạn thảo chương trình được giáo sư Đinh Đắc Vỹ ghi lại như sau:

"Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức chúng ta thường dấn những bước tiên phong trong nhiều cải cách giào dục của Miền Nam trước đây. Một trong những bước đó là việc giảng dạy môn Quốc văn ở cấp lớp 12. Trước đó, cấp lớp 12 chỉ học Triết học thay vì học Quốc văn. Phải nói ngay là sự cải tổ đó thật đáng ca ngợi, nhìn từ mọi phía: văn hóa, giáo dục, tinh thần dân tộc...

Bộ Giáo Dục quyết định bắt đầu sự cải cách này từ niên khóa 1974-75; nhưng trường ta, vốn tự đặt mình trong vai trò tiền phong, đã thực hiện ngay từ niên khóa 1973-74. ...Trước hết là chuyện chương trình. Vì bắt đầu trước các trường phổ thông bên ngoài, nên lúc ấy chúng tôi không có trong tay chương trình chính thức cùng các huấn thị cấn thiết của Bộ Giáo Dục; mà chỉ có "dò la" để biết hướng và nội dung chính của chương trình. Một chương trình thật bao quát: những ảnh hưởng của các nguồn tư tưởng lớn trên văn học Việt Nam. Với một chương trình bao quát như vậy, dĩ nhiên phải đặt vấn đề giới hạn. Giới hạn số nguồn tư tưởng lớn, "độ sâu" đề cập trong mỗi nguồn và giới hạn các tác giả và các tác phẩm minh họa cho ảnh hưởng của các tư tưởng nói trên. Bộ Giáo Dục chỉ nêu các nguồn tư tưởng, nhưng chưa thấy những huấn thị cụ thể về giới hạn, nên chúng tôi phải tự quyết định lấy... Để thông suốt nội dung các nguồn tư tưởng lớn, có khi đọc sách cả đời chưa xong, nói chi đến giới hạn vào một số giờ nhất định trong năm học. Chúng tôi đành chỉ chọn những ý tưởng phổ cập rộng rãi trong các tác phẩm văn học, dù những ý tưởng đó chưa phải là những điều tinh túy, sâu sắc nhất...". (Đinh Đắc Vỹ. Nhìn Về Trường Xưa: 224-225).[1] 

II. Phân phối chương trình

Chương trình được phân phối thành 3 giai đoạn để giảng dạy:

1. Giai đoạn quan sát: gồm hai năm lớp Sáu và lớp Bảy, mọi học sinh đều theo học một chương trình học hóa duy nhất gồm tất cả các môn học.

2. Giai đoạn định hướng: gồm hai năm lớp Tám và lớp Chín, học sinh tiếp tục học các môn văn hóa phổ thông, nhưng sẽ chọn hai trong năm môn nhiệm ý Kinh tế gia đình, Công kỹ nghệ, Canh Nông, Hội Họa và Âm nhạc. Các môn Doanh thương tổng quát ở lớp Tám và đánh máy chữ Hướng dẫn tập thể ở lớp Chín được them vào chương trình.

3. Giai đoạn chuyên khoa: Gồm những năm lớp Mười, Lớp Mười Một và lóp Mười Hai. Học sinh phải qua các phần văn hóa tổng quát: Việt văn, Triết, Sinh ngữ, Kiến thức xã hội, Toán, Khoa học thực nghiệm, Thể dục và chọn một môn nhiệm ý trong các môn Canh Nông, Kinh tế gia đình, Doanh thương, Công kỹ nghệ, Sinh Ngữ 2.

Các môn chuyên khoa được học nhiều giờ hơn các môn khác.

Các Ban được mở tại trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức trong các niên khóa vừa qua là:

 

- Ban Khoa học thực nghiệm A
- Ban Khoa học Toán B
- Ban Văn chương C
- Ban Doanh thương Văn phòng D1
- Ban Doanh thương Kế toán D2
- Ban Công kỹ nghệ Toán K1
- Ban Công kỹ nghệ Chuyên biệt K2

 

Chương Trình Trung Học Tổng Hợp
Bậc Đệ Nhất Cấp: Số Giờ Hằng Tuần
(trang 29)
 
Môn học bắt buộc Đệ Thất Đệ Lục Đệ Ngũ Đệ Tứ
Quốc văn 5 5 5 5
Kiến thức xã hội 3 3 3 3
Hướng Dẫn Đức Dục 1 1 1 1
Sinh ngữ 5 5 5 5
Khoa học 4 4 4 4
Toán 3 3 3 3
Hội họa 1 1 0 0
Âm nhạc 1 1 0 0
Công kỹ nghệ (Nam) 3 3 0 0
Kinh tế gia đình (Nữ) 3 3 0 0
Doanh thương 0 0 3 2
Hướng dẫn khải đạo 0 0 0 1
Thể dục 2 2 2 2
Canh nông 2 2 0 0
Giờ bắt buộc 30 30 26 26
Nhiệm ý (chọn 2):  
Hội hoạ     2 2
Âm nhạc     2 2
Công kỹ nghệ     3 3
Kinh tế gia đình     3 3
Canh nông     2 2
Tổng số giờ học 30 30 30 hay 31 30 hay 31

 

 Chương Trình Trung Học Tổng Hợp
Bậc Đệ Nhị Cấp: Số Giờ Hàng Tuần
(trang 30) 

  Ban Văn Chương (1) Ban Khoa Học (2) Ban Doanh Thương (3) Ban Công Kỹ Nghệ (4)
Các Môn Học Lớp Lớp Lớp Lớp
  10 11 12 10 11 12 10 11 12 10 11 12
Quốc Văn 5 5 3(0) 3 3 0 3(5) 3(5) 0 3 3 0
KTXH* 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4
Triết 0 0 5(8) 0 0 3 0 0 3 0 0 3
Sinh Ngữ I 6 6 6 5 5 5 5(6) 5(6) 5(6) 5 5 5
Sinh Ngữ II 4 4 4 0 0 0 0(4) 0(4) 0(4) 0 0 0
Toán 0 3 0 4(6) 4(7) 4(9) 4(3) 4(0) 4(0) 4(6) (7) 4(9)
Lý Hoá 0 0 4 5 5 6 4(0) 4(4) 4(4) 4(5) 4(5) 0(6)
Vạn vật 3 0 0 4(3) 4(0) 4(0) 0 0 3 0(3) 0 3(0)
Thể dục 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2
Môn chuyên Nghiệp 5 6 6(9) 7(4) 7(6) 12(4)            
Số giờ bắt buộc 21 21 28 27(28) 28(30) 28(29) 28(30) 28 27(31) 28(29) 27(31) 29(33)
Nhiệm Ý 6 6 3 6(3) 6 3 3(0) 3(0) 3(0) 3(0) 3(0) 3(0)


Ghi chú:

(1) Học sinh chọn 8 giờ Triết hay 3 giờ Quốc văn và 5 giờ Triết;
(2) BanToán ở trong dấu ngoặc, ngành khoa học thực nghiệm ở ngoài dấu ngoặc;
(3) Ngành Thể thức Văn Phòng ở trong dấu ngoặc, ngành Kế toán ở ngoài dấu ngoặc
(4) Ngành Công kỹ nghệ toán ở trong dấu ngoặc, ngành Công kỹ nghệ chuyên biệt ở ngoài dấu ngoặc.
* KTXH – Kiến Thức Xã Hội
[1] Đinh Đắc Vỹ, 2006. "Khóa 4 Với Hoạn Nạn Quốc Văn Cấp Lớp 12". Nhìn Về TrườngXưa, tr. 224-226.

[Trở Lại Trang Trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates