Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Khảo sát/Thi cử

Trường Trung học KMTĐ đi tiên phong trong việc dùng lối thi trắc nghiệm, bắt đầu là kỳ thi tuyển vào trường, sau đó là các kỳ thi trong năm học và cuối cùng là các kỳ thi tốt nghiệp. Lối thi trắc nghiệm nhấn mạnh về chiều rộng thay vì chiều sâu, và khuyến khích học hiểu và học toàn chương trình thay vì học nhớ hay học tủ. Trên nguyên tắc, các giáo sư ra đề có thể dùng những phương pháp thống kê cơ bản để xếp hạng hay cải tiến đề thi. Đây là một phương pháp khảo thí rất thích hợp cho trình độ trung học và sửa soạn học sinh cho lối khảo sát cấp đại học tại các nước tiền tiến. Về lối cho điểm, các giáo sư dùng điểm chữ (A, B, C, D, K và L) có dấu (+ hay -) thay vì điểm số (0 đến 20) như trong lối học phổ thông lúc bấy giờ.

I. Thi Tuyển vào Lớp 6 (Đệ Thất)

Từ năm 1966 trở đi, thi tuyển vào lớp 6 (Đệ Thất) trường KMTĐ như sau;

• Chương trình thi là chương trình lớp 5 (lớp Nhất) tiểu học
• Tất cả bài thi đều dưới hình thức trắc nghiệm
• Tất cả có ba bài thi có cùng hệ số: Quốc văn (60 câu, mỗi câu 1 điểm, thời gian nửa giờ), Khoa học Thương thức (60 câu, mỗi câu 1 điểm, thời gian nửa giờ) & Toán (30 câu, mỗi câu 2 điểm, thời gian một giờ)
• Chọn 70 nam sinh và 70 nữ sinh, chia thành bốn lớp, mỗi lớp 35 học sinh.

Ngày 12 và 13 tháng 8 năm 1965, trườngTrung Học KMTĐ đã tổ chức một kỳ thi nhập học gồm hai bài trắc nghiệm cho khoảng 1500 thí sinh. Số thí sinh được tuyển lựa là 280 (140 cho 4 lớp Đệ Thất và 140 cho 4 lớp Đệ Lục), không phân biệt nam nữ.  Ba môn học được lựa chọn để khảo sát là Việt Văn, Toán và Khoa Học Thường Thức (hay sinh ngữ Anh, Pháp cho lớp Đệ Lục). Mỗi bài trắc nghiệm dược chấm hai lần bằng bảng đục lỗ. Kết quả bài trắc nghiệm được đem ra nghiên cứu và nhà trường dã nhận thấy một kinh nghiệm đầu tiên vô cùng quý báu. Đường biểu diễn các điểm số của thí sinh rất đều đặn, chừng tỏ bài thi hợp với trình độ của thí sinh. Thí sinh và phụ huynh cùng công nhận rằng kỳ thi đã được tổ chức chu đáo và công bình.

Về sự công bằng của các kỳ thi tuyển, xin trích dẫn bài viết Chung Một Giấc Mơ của Giáo sư Lâm Vĩnh Thế (Đặc San Nhìn Về Trường Xưa 2006, trang 76-77):  “Tôi còn nhớ mãi và vô cùng tự hào về câu chuyện nhỏ sau đây: Mùa hè năm 1968, trong kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất của trường, trong số thí sinh có một em là con của vị đương kim Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục. Sau khi có kết quả, em này không đủ điểm để được chấm đậu…Ban Giáo sư, sau khi thảo luận rất cặn kẽ, đã quyết định không dành cho em thí sinh này một sự chiếu cố đặc biệt nào cả… Điều đáng nói hơn nữa là thái độ rất đàng hoàng đứng đắn của vị Bộ Trưởng kia: ông vui vẻ chấp nhận quyết định này của ban Giáo sư KMTĐ và còn nhắn gửi lời khen ngợi của ông đến ban Giáo sư.”

II. Kỳ Thi Hoàn Tất Mỹ Mãn Lớp 11 Trung Học Tổng Hợp và Thành Chung Trung Học Tổng Hợp.

• Hai văn bằng Hoàn Tất Mỹ Mãn Lớp 11 Trung Học Tổng Hợp hoàn toàn tương đương với Tú Tài I và Thành Chung Trung Học Tổng Hợp tương đương với Tú Tài II căn cứ trên Nghị định số 1139 GD/KHPC/HV/NĐ ngày 15/6/1970 của Bộ Giáo Dục. Đến năm 1973 thì kỳ thi Hoàn Tất Mỹ Mãn Lớp 11 Trung Học Tổng Hợp được bãi bỏ giống như kỳ thi Tú Tài I của chương trình phổ thông. Trong năm 1973 văn bằng Thành Chung Trung Học Tổng Hợp được đổi tên thành Tú Tài Tổng Hợp (có lẽ vì Thành Chung thường được hiểu là tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp thời Pháp thuộc).


• Các kỳ thi trên đều được tổ chức tại trường. Các giáo sư trong trường soạn đề thi, quay đề thi, coi thi và chấm thi. Thể lệ thi cho các kỳ thi trên tại các trường Trung Học Kiểu Mẫu và Trung Học Tổng Hợp, được qui định bởi hai Nghị định số 1141a và 1141b/GD/KHPC/HV/NĐ ngày 26/7/1970 của Bộ Giáo Dục.


• Xin lưu ý là từ năm 1970 đến 1975, có lẽ chỉ có trường Trung Học KMTĐ thực sự tổ chức thi Tú Tài Trung Học Tổng Hợp ngay tại trường nhà mà có thêm các ban hướng nghiệp trong các kỳ thi. Các trường trung  học tổng hợp khác tuy có các môn hướng nghiệp, nhưng trong thời gian này vẫn cho học sinh thi Tú Tài Phổ Thông


• Ban chỉ huy của Hội đồng Giám thị và Giám khảo do Hội đồng Giáo sư bầu ra mỗi năm gồm Chánh chủ khảo (Hiệu Trưởng), Phó chủ khảo và hai thư ký, và được Bộ Giáo Dục ban hành bằng một nghị định. Các giáo sư phụ trách soạn và in bài thi cho từng môn sẽ do ông Khoa trưởng trường Đại Học Sư Phạm Saigon cắt cử cho từng năm. Quí vị giáo sư này sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc bảo mật đề thi.


• Các thí sinh được xếp ngồi cách xa nhau, mỗi bàn một người, các hộc bàn được xếp quay ngược lại, mỗi phòng thi xếp khoảng 16 thí sinh.


• Tất cả cảc môn thi đều thi dưới hình thức: một bài trắc nghiệm (60 câu, riêng môn toán, lý hóa có 30 câu) và một bài luận hay bài toán. Riêng các môn loại I (chuyên khoa) và sinh ngữ còn có phần thi vấn đáp hoặc thực hành đều do hai vị giám khảo chấm, mỗi vị phê vào phiếu điểm riêng rồi cộng lại, để tránh gây ảnh hưởng cho giám khảo kia.


• Các điểm của bài thi của mỗi môn được cộng chung theo hệ số như sau: Trắc nghiệm (60 điểm), Luận  (40 điểm), vấn đáp hoặc thực hành (nếu có) (40 điểm) và điểm trung bình toàn niên của môn học (từ 0 tới 40 điểm tùy theo A, B, C, D, hay L).  Kết quả điểm số trên sẽ được đổi ra điểm chữ theo thang điểm của Hội đồng Giám khảo quyết định theo từng môn: A (Rất tốt), B (Tốt), C (Trung bình), D (Tạm được), L (Loại) và 0 (Điểm không).


• Trong các năm 1970 và 1971, điểm thi từng môn không bao gồm điểm trung bình toàn niên của môn học. Thay vào đó, điểm trung bình tổng quát của toàn niên học được xem như một môn loại II (không chuyên khoa).


• Việc tính điểm đậu theo nguyên tắc không cộng chung, không bù nhau, và dùng một kỹ thuật tính đặc biệt để làm nổi bật các môn chuyên khoa (môn chuyên khoa có một giá trị tuyệt đối, nếu rớt môn này, học sinh không thể đậu), nhưng vẫn giữ giá trị các môn khác để duy trì tính cách giáo dục phổ thông và toàn diện cho học sinh.  Điểm trung bình tổng quát trong năm học được coi như một môn loại không chuyên khoa (II).


• Việc tính điểm đậu có 2 giai đoạn:

a. Giai đoạn tính điểm đậu hay rớt.

- Rớt hoàn toàn: Khi có ba môn có điểm L (cả loại I và II) hay hai môn có điểm L thuộc loại I.
- Đậu bán phần (thi lại khóa hai các môn có điểm L): Khi có hai môn có điểm L (cả loại I và II) hay một môn có điểm  L thuộc loại I.
- Đậu hoàn toàn: Tất cả các môn đều có điểm D trở lên hay chỉ có một môn loại II có điểm L.

b. Giai đoạn xếp hạng đậu: Thí sinh được xếp hạng: Rất giỏi (Ưu), Giỏi (Bình), Khá (Bình thứ), Thường (Thứ), sau khi xét tỉ lệ các môn có điểm A, B, nhiều hay ít.

Cách tính điểm đặc biệt vừa làm nổi bật các môn chuyên khoa vừa giữ giá trị cho các môn học khác để tránh các tệ trạng:

• Phản chuyên khoa:  Học sinh kém các môn chuyên khoa mà vẫn đậu (trong các kỳ thi Tú Tài phổ thông đã xảy ra trường hợp học sinh ban Toán có điểm 1 hay 2 điểm vẫn đậu).
• Phản giáo dục:  Học sinh chỉ cần học vài môn như Toán, Lý Hóa mà vẫn có thể đậu.

Nói tóm lại, lối thi tốt nghiệp Trung học KMTĐ bao gồm cả chiều rộng lẫn chiều sâu: trung bình toàn năm, thi trắc nghiệm, thi viết và thi vấn đáp/thực tập. Đây là lối thi toàn diện, công bằng và tân tiến, rất tương tự lối khảo thí hiện nay của các trường trung và đại học tại các nước đã phát triển. Lối thi cử trên đã dễ dàng phản ánh trung thực khả năng của học sinh, giảm bớt rất nhiều sự may rủi. Cũng vì thế, các vị giáo sư trong trường phải bỏ rất nhiều thời giờ và công sức để soạn đề thi, quay đề thi, canh thi và chấm thi. Nhờ vậy, lối thi tốt nghiệp của Trường Trung học KMTĐ hoàn hảo hơn lối thi dựa trên bài viết 100% (trước 1973) hay trên bài trắc nghiệm 100% (1973 và 1974) của những kỳ thi Tú tài 2 phổ thông miền Nam.

(Trần Nam Bình k2 biên soạn)

 

 

 Trở lại trang trước

 

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates