Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Môn học Công Kỹ Nghệ

Một trong những nét đặc thù của chương trình giáo dục tổng hợp (GDTH) KMTÐ là các bộ môn  ‘hướng nghiệp’ như Canh Nông (CN), Kinh Tế Gia Ðình (KTGĐ), Công Kỹ Nghệ (CKN) và Doanh Thương (DT). Bài viết về CKN này dựa trên trí nhớ gần 35 năm của một số học sinh ban A & B2 nên chắc chắn có nhiều thiếu sót, nhưng bù lại sẽ mang nhiều tính chất khách quan.

 

may bao

 

Trong những năm đầu tiên (bậc Đệ Nhị Cấp) thì ban Công Kỹ Nghệ được chia thành 2 ban chuyên khoa khác nhau:  Công Kỹ Nghệ Toán (BK1) và Công Kỹ Nghệ Chuyên Biệt (K2).

  • Công Kỹ Nghệ Toán (BK1) : trình độ văn hóa tương đương với ban Khoa Học Toán (B) cộng thêm một số kiến thức về kỹ thuật, nhằm chuẩn bị cho học sinh vào bậc Cao Đẳng Kỹ Thuật.
  • Công Kỹ Nghệ Chuyên Biệt (K2): ban K2 nhằm mục đích là phát triển khả năng kỹ thuật của những học sinh ít năng khiếu về những môn văn hóa. Sau khi tốt nghiệp, học sinh ban K2 có thể đảm nhiệm vai trò của một đốc công, trưởng xưởng hoặc thi vào DHSP để trở thành một giáo sư kỹ thuật.
     
    (Trích từ Kỷ Yếu khóa 2 năm 1972) 

Nói đến CKN trước hết phải nói đến GS Trần Cẩm Hồng, linh hồn của bộ môn này.  Thầy Hồng đã từng đi du học Pháp và Mỹ, và giảng dậy trên trường Bách Khoa Phú Thọ.  Nhưng vì thích độc lập, thầy xin chuyển về trường KMTÐ năm 1965 để phát huy chương trình CKN với tư cách giáo sư tạm tuyển và sau đó khế ước.  Ðến năm 1972, trường ÐHSP Sài Gòn mời thầy phụ trách việc đào tạo giáo sư CKN cấp trung học.  Tại trường KMTÐ, không những thầy đã phát triển giáo trình CKN mà còn lập ra ‘văn hóa CKN’ nữa. 

 GS TC Hong

Thầy Trần Cẩm Hồng

Thầy Hồng trông rất đẹp trai, và tính thầy ấm áp, gần gũi với học trò.  Thầy đón trạm Ðại Ðồng  và hay dậy cả xe những bài hát như Nhà Việt Nam, Con Ðường Vui, ‘Tính tính tính, tình tang tang tang’, v.v... Trong những buổi uống sinh tố và tán dóc với học trò, có lần thầy đề nghị các nam sinh nên viết một loạt bài báo về đời sống hàng ngày.  Nhưng thầy muốn các tác giả dùng biệt hiệu trong lớp, thí dụ như Thọ ghẻ.

Gần 35 năm sau, qua thư từ liên lạc, thầy trả lời sáng tỏ nhiều câu hỏi liên quan đến CKN như sau:

  1. CKN (Industrial Arts) là  một  môn  học  phổ thông (tại các nước Tây phương) chứ  không  phải là một  môn học  hướng nghiệp  như rất nhiều  người  lầm tưởng;
  2. Môn CKN không giống như chương trình các trường kỹ thuật thời đó;
  3. Ba mục tiêu chính của CKN là: óc sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và sản xuất hàng loạt. 

Vậy thì sau 35 năm, các nam sinh nhớ gì về CKN?  Trong một bức điện thư cho thầy Hồng gần đây, một bạn viết:

‘Thú thật với thầy là em nhớ rất ít về những gì đã học từ môn CKN.  Không riêng gì môn CKN, các môn khác như Kiến Thức Xã Hội, Lý, Hóa, Toán, Vạn Vật, Việt Văn, Sinh Ngữ, Triết, vv cũng vậy, em không thể nào nhớ đã học những gì, năm nào, thầy/cô nào dậy, vv.  Bây giờ thì chỉ còn lờ mờ vài ấn tượng vụn vặt. Tuy không nhớ cụ thể và chi tiết, kiến thức mà em hấp thụ tại KMTD đã góp phần không nhỏ vào sự thành hình con người của em ngày nay.” 

Trong thư trả lời, thầy Hồng cho đó chính là một trong những nguyên tắc căn bản của giáo dục nói chung và giáo dục CKN nói riêng.  Theo thầy quên đi những điều đã học mà vẫn có thể sử dụng chúng là vì học sinh đã thấm nhuần bài học. Thầy viết:  Ðó là bí quyết của giáo dục từ muôn thuở: dậy cho quên mà vẫn dùng được những kỹ thuật cần thiết trong cuộc sống’.  Ai ghiền truyện chưởng Kim Dung và có đọc Cô Gái Ðồ Long đoạn Trương Tam Phong dậy Trương Vô Kỵ học Thái cực kiếm sẽ hiểu thầy dễ dàng.

Các bạn khác thì nhớ nhiều và rõ hơn.  Mọi người đều nhớ kỹ nghệ họa là bài học CKN đầu tiên.  Một bạn kể:

‘Tuy học CKN rất kém, tao không không bao giờ quên được cảm giác lần đầu được ngồi lên bàn vẽ kỹ nghệ họa, có thể điều chỉnh lên xuống, và nhất là cây thước T khổng lồ mà nhà trường cho tụi mình mượn.  Nhưng tao sợ nhất là giờ nộp bài vì không bao giờ tao vẽ xong cả!”

 ve ky thuat

 Vẽ kỹ thuật

mau chu

 

Bài vẽ kỹ nghệ họa hoặc là vẽ các diện (tiền, hậu, thượng, hạ, hữu, tả) của một vật/phối cảnh cho sẵn hoặc suy từ các diện ra phối cảnh. Có bạn vẫn còn nhớ thầy Hồng dậy cách chuốt viết chì, mặc dù trường KMTÐ gắn nhiều máy chuốt viết chì khắp nơi. Phải dùng đúng loại viết chì và chuốt đúng cách để vẽ nét đậm đều một ly và đường ẩn nửa ly.

Vẽ kỹ nghệ họa cũng không phải là dễ cho nam sinh đệ thất, nên khá đông bạn dùng gôm nhiều hơn là viết chì. Nhưng cũng có nhiều người vẽ rất đẹp và sạch, thí dụ như bạn Trần Trọng Ðại. Phải nhận rằng kỹ nghệ họa giúp nam sinh phát triển ý niệm vật thể trong không gian ba chiều, rất quan trọng cho môn hình học không gian trên đệ nhị cấp.  Cũng có bạn như Ông Phát nhờ một phần vào căn bản kỹ nghệ họa mà đậu vào Ðại Học Kiến Trúc sau khi tốt nghiệp KMTÐ.

Một bài học đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm là về cách dùng lưỡi đục và điêu khắc gỗ.  Một bạn viết:

“Em nhớ những gì?  Cách cầm dũa khi dũa lưỡi đục, cách nhìn nghiêng vào lưỡi đục để xem lưỡi đục có được dũa đều và thẳng không, và cách dùng sợi tóc hay giấy mỏng để thử xem lưỡi đục có bén hay không?” 

Bài thực tập là tạc hình con cò từ một khúc gỗ mềm, rồi đánh giấy nhám, sơn đen và đánh vẹc ni cho bóng.  Mà làm con cò chứ không phải con chim đâu nhá. Con chim khó làm hơn.  Ðây là một công tác khó khăn cho các bạn không khéo tay. Tuy nhiên có vài học sinh như Nguyễn Thanh Hùng làm cò rất đẹp.  Có một số bạn lớp thất 1 như Võ Thu Chánh Tâm và Võ Anh Tuấn tạc gỗ rất khéo. Nếu nhớ không lầm, Chánh Tâm điêu khắc hình ông lão có râu được thầy Hồng khen thưởng.

Chương trình CKN rất phong phú đa dạng, và nam sinh đệ nhất cấp KMTÐ học đủ nghề.  Lên năm đệ lục, học sinh bắt đầu học cách dùng máy bào và máy cưa gỗ.  Ngoài ra còn được học xếp chữ, in offset và in bằng lưới (screen printing).  Ðến năm đệ ngũ, chương trình bao gồm các động cơ nổ hai thì và bốn thì.  Lên đến năm đệ ngũ và đệ tứ, thầy Hồng không trực tiếp dậy khóa 2 nữa vì thầy bận dậy các lớp khác và phải nghiên cứu đề xuất chương trình CKN đệ nhị cấp.  Ðồng thời, bài giảng CKN bắt đầu giảm tính cách ứng dụng như hai năm đầu.

 

in bao

 In báo

 

xep chu

Xếp chữ in báo

Chẳng biết nam sinh KMTÐ ngày ấy có ai muốn học KTGÐ không?  Còn đa số nữ sinh thường tránh đi ngang qua khu CKN, mặc dù có một ít nữ sinh có quan tâm đến môn CKN (có thể muốn học mà không được phép).  Vì thế ngoài đám con trai ‘tiểu yêu’, thầy Hồng cũng có một số đệ tử con gái, thí dụ như Võ Thanh Hương, khóa 3.  Vì Thanh Hương sinh hoạt gần gũi với nhóm CKN, nên lúc đó có lời đồn Thanh Hương là cháu thầy Hồng, mặc dù hai người không có liên hệ gia đình với nhau.

Vài nữ sinh khóa 2 như Lan Phương và Thanh Việt cũng có vài kỷ niệm với môn CKN.   Lúc đó hai cô này hoạt động trong ban Văn do thầy Tích hướng dẫn trong giờ Hiệu Ðoàn.  Có lần hai người xuống xưởng CKN tập xếp chữ trong bản kẽm để in. Lan Phương còn nhớ là xếp chữ khá khó vì phải xếp ngược thì mới in đúng.  Nhân cơ hội, Lan Phương cũng nhờ ông anh họ Ngô Nhân in dùm mấy tấm danh thiếp.

Với lối học tập và sinh hoạt gần gũi, kể cả ở lại trường ban đêm, các bạn chuyên ngành CKN chia sẻ rất nhiều với nhau. Thầy Hồng và các bạn phát triển một nếp suy nghĩ và hành xử tạm gọi là ‘văn hóa’ CKN. Thời đó thầy Nhã cũng hoạt động hiệu đoàn rất mạnh, nên nam sinh hay bị gán danh hiệu ‘học trò thầy Hồng’ (văn hóa CKN) hay là ‘học trò thầy Nhã’ (văn hóa phổ thông).  Khi nhóm Vùng Lên do thầy Nhã sáng lập ra tờ báo ‘Lướt Sóng’, thì nhóm CKN có tờ ‘Phá Sóng’.  Ðiểm cần nhấn mạnh là các nhóm này tranh đua nhau trong tinh thần phát triển ‘văn hóa Kiểu Mẫu’.

CKN cũng có ảnh hưởng lâu dài  đến học sinh. Trong một email gửi đến thầy Hồng, một bạn viết:

 ‘Môn CKN đã biến em từ một con người không thích máy móc thành một người tương đối thực dụng hơn, với sự nhận thức cởi mở hơn, dạn dĩ hơn khi phải dùng đến máy móc. Một vài thí dụ. Vào những năm cuối thập niên 70 khi còn là một sinh viên nghèo, em có một chiếc xe cũ, nên nó hay dở chứng nằm ì, em đã thường đi mua đồ phụ tùng về sửa lấy. Rồi vào năm 81 khi em là một Tiến Sĩ Kỹ Sư làm việc tại một công ty chuyên nghiên cứu về biến chế than đá thành dầu hỏa, em đã săn tay áo nhào vô phụ với chuyên viên kỹ thuật để sửa nhà máy thí nghiệm mỗi khi nhà máy bị trục trặc kỹ thuật. Chính vì vậy công cuộc thí nghiệm không bị đình trệ và em cũng am hiểu nhà máy và thuộc hạ của mình hơn.’

 

Ðiều đó giúp khá nhiều cựu nam sinh KMTÐ trong việc làm chuyên môn sau này.  Ngày nay, các cựu học sinh KMTÐ, nam cũng như nữ, rất vui khi những đứa con (trai cũng như gái) mang về nhà từ trường những tác phẩm CKN do chính tay chúng làm.

Nói tóm lại, chương trình CKN tại trường KMTÐ đã thành công trên nhiều phương diện khác nhau.  Thứ nhất, và thực tế hơn hết, nhờ thầy Hồng, các thầy khác và đám nam sinh CKN chạy máy phát điện diesel mà nhà trường mới có điện xài.  Nhóm CKN cũng giúp đỡ nhiều trong vấn đề ấn loát và kỹ thuật trong trường.  Các đóng góp to lớn này ít khi có người nhắc đến.  Thứ hai, ‘văn hóa’ CKN tạo nên một mối thân tình hiếm thấy giữa các bạn K1 & K2. 

Nhưng quan trọng hơn hết, bộ môn CKN đã giúp nam học sinh phát triển các tài khéo và lối suy nghĩ thực dụng trong cuộc sống hậu trung học.  Tuy không có nhiều kỹ sư hay thợ máy giỏi, cựu nam sinh KMTÐ rất tháo vát trong việc giải quyết các vấn đề đời sống hàng ngày.  Ðiều đó chứng tỏ một điểm mà chúng ta đã biết từ lâu: môn CKN là một môn học cần thiết trong chương trình trung học và nam sinh KMTÐ rất may mắn đi tiên phong học hỏi môn này.

 

Trần Nam Bình (viết theo lời kể của Lan Phương, Bình, Dũng, Thông & Thọ) – Bài đã đăng trong Đặc San 30 Năm Tìm Về của khoá 2.

 

(Trở lại)

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates