Nguồn Gốc

(Trần Nam Bình k2 biên soạn)

Muốn hiểu về nguồn gốc trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ) nói riêng hay các trường Trung học Kiểu Mẫu nói chung, chúng ta cần xem lại bối cảnh giáo dục trung học miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.  Sau năm 1954, chương trình trung học công lập phổ thông miền Nam dựa trên chương trình Hoàng Xuân Hãn (HXH, Bộ trưởng Bộ Giáo Dục trong Chính phủ Trần Trọng Kim).  Chương trình này, ra đời từ tháng sáu năm 1945, dựa một phần rất lớn theo mô hình trung học Pháp, với tất cả những cái hay cũng như cái dở của nó.  So với những chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sau đó, chương trình HXH là một chương trình cải tổ nền trung học sâu và rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt (xem Dương Thiệu Tống 2000, trang 107–108).  Tuy nhiên, mô hình này phân biệt giữa học thuật và kỹ thuật, thiên về kiến thức từ chương, coi nhẹ vấn đề hướng nghiệp và có tính chất chọn lọc cao.[1]

Ngay vào cuối thập niên 1950, giới giáo dục miền Nam đã có nhiều thảo luận về vấn đề cải tổ trung học để thích ứng với nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội lúc bấy giờ (xem thêm Phạm Văn Quảng 2006, trang 23).  Trong Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc lần thứ nhất (HTGDTQ-I) tại miền Nam năm 1958, ba nguyên tắc định hướng (triết lý) giáo dục căn bản đã được đề xướng (xem Nguyễn Hữu Phước 1974, trang 29-30):

  • Nhân bản;
  • Dân tộc; và
  • Khai phóng.

Giáo dục nhân bản là giáo dục đặt con người là cứu cánh, chú trọng vào sự phát triển toàn diện, và tôn trọng những giá trị thiêng liêng của con người.  Giáo dục dân tộc là giáo dục tôn trọng truyền thống dân tộc, phù hợp với hoàn cảnh của con người trong gia đình, địa phương, nghề nghiệp, xã hội và quốc gia, và nhằm bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển của quốc gia dân tộc.  Giáo dục khai phóng là giáo dục cởi mở đón nhận các văn hoá và tiến bộ trên thế giới trong tinh thần khoa học, và nhằm phát triển tinh thần xã hội và dân chủ.

Ba triết lý giáo dục này được Bộ Giáo Dục miền Nam bắt đầu áp dụng vào chương trình trung học năm 1960 (xem Ministry of Education 1960, trang 9).  Chúng chính là những triết lý giáo dục của KMTĐ sau này, và là của tất cả các trường trung học miền Nam thời đó.  Cần nhấn mạnh, đây là triết lý chung của Bộ Giáo Dục và không phải là nguyên tắc riêng của trường KMTĐ như một số bạn KMTĐ lầm tưởng.

Sau HTGDTQ-I, Bộ Giáo Dục bắt đầu dự án xây cất một số trường tân tiến với các lớp học khang trang, học cụ đầy đủ, phương pháp giảng dạy hiện đại, và chương trình phù hợp cho nhu cầu phát triển của học sinh, của xã hội.  Các trường này sẽ là nơi nghiên cứu và kiểm nghiệm giáo dục bậc trung học, và trực thuộc các Đại Học Sư Phạm (ĐHSP) địa phương.  Dự án này là nguồn gốc nguyên thủy của trường Trung học Kiểu Mẫu và được bắt đầu tiến hành từ năm 1959 (xem ĐHSP Sài Gòn 1966, trang 41).  Dự án cải tổ giáo dục trung học này nhận được sự tài trợ của chính phủ Mỹ qua một thoả hiệp giữa Bộ Giáo Dục, Nha Trung Học, ĐHSP Sài Gòn và cơ quan USAID/Education (xem Nguyễn Trung Quân 2000, trang 190-191).

Kế hoạch cải cách nói trên xẩy ra cùng lúc với phong trào cải tổ giáo dục trung học tại một số nước đã phát triển, ví dụ như comprehensive school tại Anh, với một số đặc điểm như sau: giáo dục đại chúng (không thi tuyển), bổ sung các môn học thuật với các môn hướng nghiệp, và đường hướng giảng dạy phù hợp với năng khiếu của học sinh và nhu cầu phát triển của quốc gia.  Các đặc tính của các nền giáo dục trung học tân tiến này đã được Giáo sư Dương Thiệu Tống (1965, trang 3) thảo luận và phân tích trong D án Đại cương đệ trình lên Hội đồng Khoa  ĐHSP Sài Gòn tháng 3 năm 1965.  Dự án này là nền tảng cho Nghị Định số 840-PC/NĐ ngày 12/06/1965 thành lập trường Trung học Đệ nhị cấp KMTĐ, trực thuộc trường ĐHSP Sài Gòn.  Đây có thể xem là nguồn gốc trực tiếp của trường Trung học KMTĐ.

Theo Nghị Định nói trên, mục tiêu và nhiệm vụ của trường KMTĐ được ấn định như sau (xem ĐHSP Sài Gòn 1966, trang 9):

1. Trường Trung học Kiểu Mẫu là một trung tâm nghiên cứu và kiểm nghiệm giáo dục bậc Trung học.  Các vấn đề được đem nghiên cứu và kiểm nghiệm được tạm liệt kê như sau:

a) Chương trình giáo dục bậc Trung học (lựa chọn về nội dung các môn học, các hoạt động học đường).

b) Các phương pháp giảng dạy (cách trình giảng các bài học, cách sử dụng các học cụ, sử dụng dụng cụ thính thị, các hoạt động trong lớp học).

c) Thi cử, sử dụng trắc nghiệm, kiểm soát học vấn.

d) Chương trình hướng dẫn (hướng học và hướng nghiệp).

e) Tổ chức quản trị và kiểm soát học đường Trung học giúp cho việc điều hành có hiệu quả.

f) Hợp tác học đường và gia đình, học đường và địa phương.

2. Trường Trung học Kiểu Mẫu là một trường quan sát và thực hành sư phạm cho các sinh viên trường Đại học Sư phạm mỗi khi Hội đồng Khoa Đại học Sư phạm nhận thấy cần thiết.

3. Với sự hợp tác của các nhà giáo dục và sau nhiều công phu nghiên cứu và kiểm nghiệm, trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức mong trở thành một kiểu mẫu cho học đường Trung học Việt Nam trong tương lai.

Tên tiếng Anh của trường trong những văn bản chính thức là Thu Duc Demonstration Secondary School.  Ý nghĩa của trường Demonstration là gì?  Tại các quốc gia nói tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc, Candada, vv, Demonstration Schools là các trường tiểu hoặc trung học có liên hệ đặc biệt với các Phân khoa Sư phạm của các đại học.  Các trường này là nơi mà các sinh viên sư phạm có thể đến để huấn luyện và thực tập nội dung giáo trình và những phương pháp giảng dậy mới.  Ngoài ra, các trường Demonstration cũng là nơi mà các trường khác đến học hỏi và bắt chước.  Trường Trung học KMTĐ, trực thuộc ĐHSP Sài Gòn, là nơi quan sát và thực hành sư phạm cho các sinh viên ĐHSP Sài Gòn, như ghi trong mục tiêu thứ hai của Nghị định thành lập trường.[2] Như vậy, KMTĐ đúng là một trường Demonstration theo nghĩa nói trên.  Tuy nhiên KMTĐ khác với các trường Demonstration trong điểm sau.  KMTĐ không chỉ là một trường Demonstration địa phương, mà còn mang kỳ vọng “trở thành một kiểu-mẫu cho học-đường Trung-học Việt-Nam tương lai” như mục tiêu thứ ba của Nghị định sáng lập trường nói trên.

Tài liu Tham khảo 

Dương Thiệu Tống (1965), D án Đại cương Đệ trình Hi đồng Khoa Đại hc Sư phm Sài Gòn, ĐHSP Sài Gòn, Sài Gòn, Tháng 3.

Dương Thiệu Tống (2000), Suy Nghĩ v Văn Hoá Giáo Dc Vit Nam, Nhà Xuất Bản Trẻ, T/P Hồ Chí Minh.

Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (1966), Trường Trung-Học Kiểu-Mẫu Thủ-Đức, Niên-Khoá Đầu Tiên 1965–1966, ĐHSP Sài Gòn, Sài Gòn.

Ministry of Education (1960), Secondary Education Curriculum, Ministry of Education, Republic of Vietnam, Saigon.

Nguyễn Hữu Phước (1974), Contemporary Education Philosophies in Vietnam, 1954-1974: A Comparative Analysis, Luận án Tiến sĩ, Đại học Southern California.

Nguyễn Trung Quân (2000), “Đôi điều ghi nhớ về trường trung học tổng hợp ở miền Nam Việt Nam” trong Giáo Dục ở Miền Nam Tự Do Trước 1975, Nguyễn Thanh Liêm (chủ biên), Lê Văn Duyệt Foundation & Tập san Nghiên cứu Đồng Nai Cửu Long, Santa Ana, trang 189-198.

Phạm Văn Quảng (2006), “Việc chuẩn bị chương trình trung học tổng hợp”, Nhìn Về Trường Xưa - Đặc San Giáo Sư và Nhân Viện Trung Hc Kiu Mu ThĐức, Quận Cam, trang 2129. 



[1] Thật ra, tính chất chọn lọc của giáo dục trung học miền Nam qua các kỳ thi tuyển đệ thất (lớp 6) rất gay go vào các trường trung học công lập phản ánh khá nhiều sự thiếu thốn của nguồn lực công so với nhu cầu của học sinh.

[2] Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trường ĐHSP Sài Gòn đã không dùng cơ sở dành riêng cho trường tại khuôn viên KMTĐ.  Vì thế việc sinh viên ĐHSP thực tập tại KMTĐ có phần giới hạn hơn chủ trương ban đầu.

[Trở lại trang trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates