Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Ban Điều Hành

                                                 (Trích từ tập Lược Sử KMTĐ  do GS Huỳnh văn Nhì soạn)

I. Ban Điều Hành

Ban Điều Hành là một bộ phận mở rộng của Ban Giám Đốc. Ban này do Hiệu Trưởng triệu tập và có nhiệm vụ góp ý kiến, thảo luận và giải quyết các vấn đề phức tạp hơn ngoài khả năng giải quyết của Ban Giám Đốc. Hiệu Trưởng có quyền quyết định tối hậu.

Ban Điều Hành gồm :

- Hiệu Trưởng

- Trưởng phòng Học Vụ

- Trưởng phòng Học Sinh Vụ

- Trưởng phòng Hành kế

- Trưởng ban Nghiên Cứu Giáo Dục

- Quản thủ Thư viện

- Trưởng ban Sinh Hoạt Học Đường

- Trưởng ban Hướng Dẫn - Khải đạo. 

II. Nhân Sự

Với Hệ thống Tổ chức Quản trị Học đường mới được đề nghị đem ra kiểm nghiệm tại trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức như nêu trên thì thành phần Giáo chức và Nhân viên của trường phải là những người có tâm huyết về Cải tổ Chương trình Giáo dục Việt Nam, "đào tạo con em trở nên những con người thiết thực trong xã hội. Có thể tự mình giải quyết những vấn đề gia đình, xã hội. Những con người biết tháo vát có thể tự mình thỏa mãn những nhu cầu của cuộc sống hằng ngày" [1].  

                     chart 1

Ban đầu nhà trường có quyền phỏng vấn và tuyển dụng Giáo chức và nhân viên ở bất kỳ ở đâu miễn là khả năng phù hợp với những tiêu chuẩn do Bộ Giáo Dục ấn định cho việc tuyển dụng. Việc tuyển dụng do nhà trường chọn theo các tiêu chuẩn sau :

- Phải là giáo sư Trung học Đệ Nhị Cấp,

- Đã dạy tối thiểu 2 năm tại một trường Trung học Đệ Nhị Cấp,

- Có khả năng chuyên môn (tốt nghiệp hạng cao) và thiện chí phục vụ trong Chương trình Giáo dục mới được nghiên cứu và kiểm nghiệm tại trường.

Trường đề xuất tuyển dụng và do đề nghị của Khoa Trưởng Đại Học Sư Phạm Sài Gòn lên Bộ Quốc Gia Giáo Dục để ra các quyết định bổ nhiệm. Nhưng từ năm học 1970-1971 về sau Bộ Giáo Dục bỏ những nguyên tắc trên vì lý do có xung đột cá nhân giữa Bộ và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn và viện một vài lý do không chính đáng khác. Bộ Giáo Dục chỉ giữ tiêu chuẩn Giáo sư Đệ nhị Cấp và tùy theo nhu cầu của trường mà Nha Trung Học Bộ Giáo Dục thuyên chuyển thẳng về trường một số Giáo chức không theo danh sách mà trường đề nghị cho năm học. Do đó mà Chương trình Giáo Dục đang kiểm nghiệm tại trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức gặp một số khó khăn do số giáo chức mới về thiếu khả năng và không hội nhập được tốt với chương trình giáo dục mới của nhà trường.

Còn về Giám thị và nhân viên hành chánh thì trường trình nhu cầu qua Khoa Trưởng Đại Học Sư Phạm trình lên Bộ Giáo dục và Nha Trung Học tùy ý bổ nhiệm.

Trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức chi tiêu bằng ngân sách của trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn cho nên ngân quỹ của trường nhiều khi cũng rất hạn chế.

Vì qui chế trường Trung học Kiểu Mẫu chưa có, nên những chức vụ của trường được sự bổ nhiệm của Bộ Giáo Dục được hưởng phụ cấp theo các chức vụ của trường Trung học Đệ Nhị Cấp (Hiệu Trưởng, Giám Học, Phụ tá giám học, Tổng Giám Thị, Quản thủ Thư viện), các giáo sư nhận những chức vụ điều hành khác thì nhà trường chỉ linh động giảm giờ dạy lớp cho quý vị đó.

Thông thường các giáo sư được tuyển dụng về trường là Giáo sư Trung học Đệ Nhị Cấp, các Giám thị thường là Giáo sư Trung học Đệ Nhất Cấp, nhân viên Văn phòng theo cấp bậc hành chánh.

  • Khoa Trưởng Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn:

  GS Tấn

Giáo Sư Trần Văn Tấn 

  • Ban Giám Đốc

          1.        Niên Khóa 1965 - 1966 :

(a) Hiệu Trưởng : GS. Dương Thiệu Tống

(b) Tổng Giám thị : Nguyễn Huy Du

                                 Ô Huy Du

       Gs Dương Thiệu Tống                       Ô. Nguyễn Huy Du

(c) Chuyên môn :

Sinh hoạt Hiệu Đoàn : Trần Ngọc Ban

Quản Thủ Thư Viện : Nguyễn Ứng Long

Hướng Dẫn - Khải Đạo : Phạm Văn Quảng

       2.        Niên Khóa 1966 - 1967 - 1968 :

(a) Hiệu Trưởng : Nguyễn Thị Nguyệt

(b) Giám Học : Lê Thành Việt

(c) Phụ Tá Giám Học : Huỳnh Văn Nhì

(d) Trưởng Phòng Học Sinh Vụ : Dương văn Hóa

 

gs Nguyệt Ô LT Việt GS Nhì GS Hóa
    GS Nguyễn T Nguyệt      Ô. Lê Thành Việt     GS Huỳnh Văn Nhì    GS Dương Văn Hóa

(e) Chuyên môn :

 Sinh hoạt Học Đường : Trần Ngọc Ban

 Hướng Dẫn - Khải Đạo : Phạm Văn Quảng

Quản Thủ Thư Viện : Nguyễn Ứng Long

     3.        Niên Khóa 1968 - 1969 - 1970 - 1971 - 1972 :

(a) Hiệu Trưởng :  Phạm Văn Quảng

(b) Phó Hiệu Trưởng : Lê Thành Việt (1969-1970)

(c) Trưởng phòng Học Vụ (Giám Học) : Huỳnh Văn Nhì

(d) Trưởng Phòng Học Sinh Vụ : Dương Văn Hóa (Tổng Giám Thị )

GS Quảng Ô Việt gs Nhì GS Hóa
GS Phạm v. Quảng Ô Lê Thành Việt GS Huỳnh v. Nhì GS Dương v. Hóa

(e) Chuyên môn :

Sinh Hoạt Học Đường : Lâm Vĩnh Thế ( đến 8/1971), Nguyễn Ngọc Trác

Hướng Dẫn - Khải Đạo : Dương Thủy Ngân

Nghiên Cứu Giáo Dục : Nguyễn Nhã

Quản Thủ Thư Viện : Nguyễn Thái An (thay đến1970), Lâm Vĩnh Thế (đến 8/1971),

Nguyễn Ngọc Hoàng (1971đến 6/1973)

          4.        Niên Khóa 1972 - 1973 - 1974:

(a) Hiệu Trưởng : Dương Văn Hóa

(b) Trưởng phòng Học Vụ (Giám Học) : Huỳnh Văn Nhì

(c) Trưởng Phòng Học Sinh Vụ : Nguyễn Ngọc Trác (TGT)

(d) Phòng Hành kế (Hành Chánh-Kế toán) :  Nguyễn Hữu Hiệp

GS Hóa GS Nhì gs Trác gs hiệp
GS Dương v. Hóa GS Huỳnh v. Nhì GS Nguyễn n. Trác GS Nguyễn h. Hiệp

(e) Chuyên môn:

Sinh Hoạt Học dường : Nguyễn Ngọc Trác (kiêm)

Hướng Dẫn - Khải Đạo : Dương Thủy Ngân

Khảo Thí : Dương Hồng Quân

Nghiên Cứu Giáo Dục : Nguyễn Nhã

Quản Thủ Thư Viện : Nguyễn Thái An (Năm học 1971 - 1972)

Nguyễn Ngọc Hoàng (1972 đến tháng 5/1973)

Lâm Vĩnh Thế (tháng 6/1973 dến 31/12/1974)

        5.        Niên Khóa 1974 - 1975:

(a) Hiệu Trưởng: Huỳnh Văn Nhì

(b) Trưởng phòng Học Vụ (Giám Học): Tống Văn Nhàn

(c) Trưởng Phòng Học Sinh Vụ: Nguyễn Ngọc Trác (TGT)

(d) Trưởng Phòng Hành Kế: Nguyễn Hữu Hiệp .

GS Nhì gs Nhàn gs Trác gs hiệp
GS Huỳnh v. Nhì GS Tống v. Nhàn GS Nguyễn n. Trác GS Nguyễn h. Hiệp

(e) Chuyên môn :

Sinh Hoạt Học dường : Nguyễn Ngọc Trác (kiêm)

Hướng Dẫn-Khải Đạo : Dương Thủy Ngân

Khảo Thí : Dương Hồng Quân

Nghiên Cứu Giáo Dục : Nguyễn Nhã

Quản Thủ Thư Viện : Nguyễn Ngọc Hoàng.

Ngoài ra còn có những vị Phụ Tá sau đây đã giúp rất nhiều trong công việc quản trị nhà trường qua các thời kỳ Ban Giám Đốc:

- Phụ tá Giám học:       Tống văn Nhàn (từ năm học 1969 đến 1974)

Dương Hồng Quân (từ 1974)

- Phụ tá Tổng Giám thị:           Trần Thái Hồng (1969-1970)

Lâm Hoàng Minh (1973)

Ghi chú :

  1. Thông thường việc phân nhiệm được thảo luận rộng rãi và công bố trong một buổi Họp Hội Đồng Giáo sư toàn trường vào đầu niên khóa.
  2. Các Giáo sư giữ nhiêm vụ trong trường khi có thâm niên hay có Bằng Cấp cao hơn thường được thuyên chuyển về Đại học Sư phạm Sàigòn để phục vụ công tác giảng dạy ở Đại học, ở các khóa Trung học Chuyên nghiệp do Đại học Sư phạm tổ chức. 
  • Nhân Viên Giảng Huấn
  1. Sự bổ nhiệm và Yếu tố chọn Giáo sư:

Cho đến năm học 1970-1971, nhà trường đã phát triển đến cấp lớp 12, sỉ số học sinh và số lớp coi như được ổn định (xem BảngThống Kê số lớp học 1965-1974). Số giáo sư giảng huấn cũng tăng theo nhưng vẫn chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế của trường (xem Bảng Thống kê số giáo sư).

Từ năm học 1965 đến 1974 số giáo sư tại trường gồm có các vị (Xem Phụ đính Danh Sách Giáo sư), được phân phối trong các Tiểu Ban như sau :

Các Tiểu Ban

Số Giáo Sư và Nhân Viên 1965

Số Giáo Sư và Nhân viên    1970

Số Giáo Sư và Nhân Viên 1974

  •   Tiểu   Ban Quốc Văn

2

9

10

  •   Tiểu   ban Anh Văn

1

6

10

  •   Tiểu   Ban Pháp Văn

2

5

8

  •   Tiểu   Ban Kiến Thức Xã Hội

2

8

7

  •   Tiểu   Ban Toán

2

6

10

  •   Tiểu   Ban Lý Hoá

1

7

8

  •   Tiểu   Ban Vạn Vật

2

3

3

  •   Tiểu   Ban Doanh Thương

1

3

6*

  •   Tiểu   Ban Công Kỹ Nghệ

1

4

5

  •   Tiểu   Ban Kinh Tế Gia Đình

2

4

7*

  •   Tiểu   Ban Canh Nông

1

1

-

  •   Tiểu   Ban Thể Dục

1

2

3

  •   Tiểu   Ban Hướng Dẫn Khải Đạo

1

1

2

  •   Tiểu   Ban Âm Nhạc

1

1

1

  •   Tiểu   Ban Hội Hoạ

1

1

1

  •   Tiểu   Ban Triết

-

2

1

  •   Nhân   viên Văn phòng Y Tế

3+1

4+1

7+1

  •   Giám   Thị

3

1

4

  •   Tuỳ   Dịch

3

4

5

  •   Tài   Xế (do Hội Phụ Huynh học sinh thuê)

1

2 + 10

2 + 12

 

* Không còn Giáo sư cơ hữu Đệ Nhị Cấp vì đã chuyển về Đại học Sư phạm Sài Gòn.

Xem Danh sách Giáo sư ở Bảng Phụ Đính.

Số giáo sư trên đây bao gồm cả giáo sư thỉnh giảng dạy giờ.

Cho đến cuối năm học 1970-1971, số giáo sư của trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức vẫn còn thiếu khoảng 20 vị so với nhu cầu thực tế của trường.

Từ các niên khóa 1971 dến 1974 số Giáo sư và Nhân viên của trường có tăng dần tương đối tạm ổn, nhưng chưa đáp ứng đủ cơ số cho một hệ thống Tổ chức Quản trị trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức như đã nêu.

Một số giáo sư do Nha Trung Học, Bộ Giáo Dục, thuyên chuyển về trường không đúng theo nhu cầu của trường, các môn cần thì không đáp ứng, các môn không cần thì dư giáo sư.

Trong nhiều niên khóa trước 1973, vì tình trạng thiếu giáo sư dạy tại lớp, nhiều vị đã phải dạy đủ số giờ bắt buộc còn phải kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Tiểu ban hoăc Giáo sư Chủ nhiệm. Vì vậy phần vụ và công tác giao cho những vị này không được thi hành đúng mức và chu toàn, công việc bị đình trệ ảnh hưởng đến việc điều hành của trường. Đó là những yếu tố rất quan trọng làm ngăn trở sự phát triển và cuộc kiểm nghiệm mô thức quản trị học đường đã được nêu ra.

Với mục tiêu nghiên cứu và kiểm nghiệm một chương trình giáo dục mới – Chương trình Trung học Tổng hợp - nhà trường rất cần những giáo sư có khả năng chuyêm môn cao, thích nghiên cứu và giảng dạy chương trình giáo khoa mới, biên soạn sách giáo khoa mới, thay đổi phương pháp giảng dạy và đánh giá học sinh bằng Trắc Nghiệm Khách Quan, tham gia tích cực các Sinh Hoạt Học Đường để giúp hiểu thêm về lớp trẻ mà mình giáo dục. Do đó giáo sư cần gắn bó nhiều hơn với nhà trường ít nhất là 5 năm hay 10 năm.

Tuy nhiên, có không ít giáo sư chỉ coi trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức là một nơi trung chuyển để sau 2 năm làm việc tại trường thì xin về trường nào đó ở trung tâm Sài Gòn thì sẽ dễ dàng hơn một giáo sư ở Tỉnh xin về Sài Gòn, một số vị khác mong học có bằng cấp cao hơn để xin về Đại học Sư phạm Sài Gòn vì nơi đây cũng thiếu giáo sư giảng dạy nhất là ở Ngành Đê Nhất Cấp mới mở đào tạo giáo sư các ngành hướng nghiệp cho các trường Trung học Dẫn đạo và 4 trường Trung học Tổng Hợp mà Bộ Giáo Dục chính thức ban hành áp dụng dạy chương trình Trung học Tổng Hợp từ niên khóa 1970-1971.

Với thiện chí có thừa, đại đa số giáo sư tại trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức đã cố  gắng làm việc gấp đôi, gấp ba lần so với giáo sư Trung học Phổ thông bên ngoài. Nhưng thiện chí và sức cố gắng cũng có giới hạn và cũng tàn lụn dần theo năm tháng nếu không có gì đền bù xứng đáng với công sức bỏ ra!

Nếu muốn chương trình nghiên cứu và kiểm nghiệm chương trình Trung học Tổng Hợp tại trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức được nhiều kết quả hơn để phục vụ cho nền giáo dục Việt Nam tương lai, thiết nghĩ Bộ Giáo Dục nên duyệt và ban hành một Qui Chế riêng cho loại trường Kiểu Mẫu và cung cấp khá đầy đủ giáo sư, giám thị và nhân viên hành chánh cho trường cũng như cơ sở vật chất và phương tiện để giảng dạy.

  • Sinh hoạt và Tu nghiệp Giáo chức.

Nhà trường ở một vị trí quá xa các cộng đồng, giáo sư, nhân viên và học sinh phải di chuyển từ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Đức để đến trường. Thông thường họ phải ra trạm xe buýt để đón xe từ 06g30, đến trường làm việc và học từ 08g30 sáng đến 16g30 chiều. Do đó tất cả phải ở lại trưa tại trường. Trường chưa có Câu Lạc Bộ Nhà ăn trưa cho đến năm học 1971, nên ăn uống buổi trưa thường là tự túc đem theo từ nhà, chưa có nơi nghỉ ngơi cho giáo sư, quí vị này thường nghỉ ở Phòng Họp Giáo sư hay nơi văn phòng làm việc, do đó năng suất làm viêc kém đi rất nhiều, sức khỏe mệt mỏi.

Mục tiêu và định hướng của nhà trường quá mới mẻ, đại đa số giáo sư trong trường chưa được thông suốt vấn đề "Chương trình Giáo dục Tổng hợp", nên thường trong dịp nghỉ hè, nhà trường, khi xin được kinh phí, sẽ tổ chức những Khóa Tu nghiệp cho toàn thể giáo sư của trường về một số chủ đề liên quan đến mục tiêu và định hướng của trường, phương pháp giảng dạy các môn học, chương trình học, giới thiệu các môn học Hướng nghiệp, chương trình Sinh hoạt Học đường....

Những Khóa Tu nghiệp này thường được tổ chức tại trường, một đôi khi kết hợp với những kỳ Trại tại Vũng Tàu, phương tiện đi lại do trường đài thọ, ăn ở do giáo sư tự túc với sự hỗ trợ của trường hay Hội Phụ Huynh Học sinh. Đây là một sự thiệt thòi nữa cho giáo sư tại trường. Nhà trường và giáo sư mong Bộ Giáo Dục dự liệu các biện pháp yểm trợ tài chánh cho các Khóa Tu nghiệp cho giáo sư của trường.

Cuối năm 1973, được sự hỗ trợ của Nhà Văn Hóa Pháp, nhà trường đã cử sang Pháp hai giáo sư Pháp văn đi tu nghiệp về phương pháp giảng dạy Pháp văn và hai giáo sư toán sang tu nghiệp về môn Tân Toán Học tại Pháp trong vòng 3 tháng.

Trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức là một trường nghiên cứu và kiểm nghiệm một chương trình giáo dục trung học mới nên trước mắt quí vị giáo sư nắm giữ vị trí các Trưởng Ban cần có thời gian để nghiên cứu và viết các tài liệu về các chương trình mới, phương pháp giảng dạy mới. Thông thường các Giáo sư Đệ nhị cấp bắt buộc phải có 16 giờ/tuần dạy lớp do đó quý vị Trưởng Ban cần phải được giảm từ 06 giờ đến 08 giờ/tuần dạy lớp; quý vị này còn là thành viên của Ban Nghiên Cứu Giáo Dục để hợp tác trong việc triển khai chương trình giáo dục đang kiểm nghiệm tại trường. Kế hoạch giảm giờ dạy này nhà trường cũng chỉ linh động áp dụng ở một vài vị trí cần thiết.

 mung xuan 72

Giáo Sư Mừng Xuân 1972 trước Đại Giảng Đường

 hoi dong GS

Một buổi họp Hội Đồng Giáo Sư

  • Phái Đoàn Giáo Sư Cố Vấn Đại Học OHIO

Sau Hội Thảo Giáo Dục Toàn Quốc lần thứ nhất tại miền Nam Việt Nam năm 1958, Bộ Giáo Dục, Nha Trung Học và Đại Học Sư Phạm Sàigòn đã ký kết với cơ quan USAID Education trong chương trình viện trợ của Mỹ để phát triển Chương trình Trung học Tổng hơp tại miền Nam Việt Nam. Phái đoàn cố vấn giáo dục Ohio University phụ trách cố vấn phát triển chương trình trung học tổng hợp.

"Hai vị giáo sư sau đây đã có công với trường Đại học Sư Phạm và trường Trung học  Kiểu Mẫu Thủ Đức, nhưng đã qua đời trong thời gian công tác tại Việt nam :

1- DR.HERBERT K. WALTHER, Ed.D.(Columbia University), mất Sept. 01, 1965.

2- DR.RONALD J. SLAY, Ed.D. (Columbia University), mất Oct. 07, 1965.

Phái đoàn Giáo sư Cố vấn Đại học Ohio gồm có 6 vị giáo sư về ngành sư phạm kể cả vị trưởng phái đoàn, Dr. Gilbert A. Stephenson. Trong những tháng qua (thời điểm 1965, người viết ghi chú), quý vị giáo sư trong phái đoàn đã giúp đỡ trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức rất nhiều về phương diện kỹ thuật":

1. Dr. Gilbert A. Stephenson (Trưởng phái đoàn)

2. Dr. Doris McGinty (Kinh Tế Gia Đình)

3. Miss Marguerite Appel (Doanh Thương)

4. Dr. Robert Van Drimmelen (Quản Trị Học Đường)

5. Dr. Lester Mills (Giáo dục Khoa học)

6. Mr. William Sell (Công Kỹ Nghệ ) [2]

Thông thường quý vị giáo sư trong Phái đoàn Cố vấn chỉ công tác tại Việt Nam khoảng thời gian 2 năm hay 3 năm rồi có thể thay vị giáo sư khác qua tiếp tục công tác, thường là trong các lãnh vực giáo dục chuyên nghiệp và phương pháp giảng dạy.

Tôi còn nhớ có quý vị giáo sư sau đây đã từng cố vấn cho trường:

1-    Dr. Donald Knox (Trưởng phái đoàn tiếp theo)

gsTan Gilvert Văn

          Gs. Trần văn Tấn -  Dr. Gilvert Ạ Stephenson  -  Gs. Lê Văn

 

gs Donald & gs Tấn 

Dr. Donal Knox   -  Gs. Trần v Tấn 

2-    Dr. Doris McGinty (Bộ môn Kinh tế Gia dình)

 

 dr Doris_gs Tuỵết

     Dr. Doris McGinty  -  Gs. Huỳnh Bạch Tuyết

 

 marguerite

        Bà Marguerite Appel  - Gs. Nguyễn Kim Nhiệm

3-    Bà Marguerite Appel (Bộ môn Doanh thương)

4-    Dr. Paweleck (Bộ môn Công kỹ nghệ)

5-    Dr. Bill Raines (Bộ môn Hướng Dẫn - Khải đạo)

 

 dr Paweleck

       Dr. Paweleck

 gs Quảng dr Bill

                 Gs. Phạm văn Quảng – Dr. Bill Raines

Và phái đoàn cố vấn Ohio University hoàn tất khế ước năm 1973.

  • Nhân viên văn phòng.

Trên nguyên tắc mỗi Phòng đều có nhu cầu thực tế về số nhân viên để làm việc. Kể từ năm học đầu tiên 1965-1966 đến 1974, nhà trường mỗi năm đều phát triển về số học sinh (mỗi năm học tăng 140 học sinh) do đó số lớp học tăng theo, vấn đề nhân viên giám thị, nhân viên văn phòng thiếu thốn là một vấn đề nan giải của trường trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức. Một cơ sở rộng lớn, phức tạp và đa nhiệm như thế mà nhân viên giám thị, nhân viên văn phòng lại thiếu thốn trầm trọng trong nhiều năm do đó ảnh hưởng xấu đến việc chỉ huy và điều hành của trường.

Năm đầu thành lập trường (1965) với 8 lớp học và 274 học sinh, số nhân viên văn phòng có được là:

- Văn phòng: 1 người (Ngyễn Bá Hoa, Nguyễ thị Giàu)

- Giám thị: 3 người (Nguyễn văn Chúc, Nguyễn văn Ruộng, Nguyễn vănThức)

- Thư ký đánh máy: 1 người (Bùi Ngọc Vĩ)

* Tùy dịch: 3 người (Nguyễn văn Chiến, Lê Nhàn, Đào văn Trường)

Trong năm học, số nhân viên này lần lượt bị đi quân dịch, thuyên chuyển về Đại học Sư phạm Sài Gòn hoặc xin thôi việc. Một số người đi, một số người đến, thay đổi luôn, tính đến năm học 1970-1971, nhà trường có được 5 nhân viên văn phòng được phân phối như sau :

- Hành chánh nhân viên: 1 người (Nguyễn văn Ruộng)

- Kế toán lương bổng: 1 người (Cao văn Hiện)

- Vật liệu-Tiếp liệu: 1 người (Võ văn Thức)

- Thư ký Phòng Học vụ: 1 người (Nguyễn Bá Hoa)

- Thư ký đánh máy: 1 người (Vũ Đình Sinh)

* Tùy dịch:  4 người (Nguyễn văn Ca, Lê Nhàn, Nguynễ văn Trường, Nguyễn văn Hiếu)

* Tài xế: 2 người (Nguyễ văn Hai, Nguyễn văn Phước)

Còn Giám thị thì không còn người nào (1971), nhiều khi phải điều động nhân viên văn phòng làm thay.

Số giáo sư giảng huấn, số lớp học và sỉ số học sinh gia tăng mà số nhân viên văn phòng lại không tăng nên việc chỉ huy và điều hành nhà trường gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại.

Năm học này (1970 - 71) nhà trường có 6 nhân viên tùy dịch và tài xế :

- Tài xế: 2 người, một lái xe cho Hiệu Trưởng, một lái xe buýt,

- Gác dan (Bảo vệ): 1 người (Nguyễ văn Hiếu) -- Tùy dịch: 3 người, giữ việc chạy công văn, quét dọn vệ sinh, và một số công việc linh tinh khác.

Từ niên khóa 1973-1975 số Giáo sư và nhân viên tương đối đủ cơ số, nhưng người mới về chưa đáp ứng với chương trình giáo dục mới của nhà trường, ở các Ban Doanh Thương, Kinh Tế Gia Đình số Giáo sư Đệ Nhất Cấp mới tốt nghiệp ở Đại học Sư Phạm còn non trẻ chưa có kinh nghiệm giảng dạy trong khi đó số Giáo sư Đệ Nhị Cấp ở các Ban này lại rút về Đại học Sư Phạm Sài Gòn. Do đó nhà trường cần phải có chương trình tập huấn cho số giáo sư nói trên về Chương trình Giáo dục Tổng hợp đang nghiên cứu và kiểm nghiệm tại trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức. 

  • Tổ Chức Học Sinh.

Hệ Thống Tổ Chức :

Tổ chức tập thể học sinh cũng chiếm một phần khá quan trọng trong cơ cấu học đường mới. Chương trình Sinh Hoạt Học Đường được đặt nặng ở trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức vì trường quan niệm chương trình này như một phần thực tập của môn học Công dân Giáo dục và giúp học sinh sống tập thể, tập tự chỉ huy, thể hiện được tinh thần dân chủ, tập có ý thức trách nhiệm, tạo được tình tương thân tương trợ, sư tận tâm phục vụ .

Do đó tập thể học sinh cũng cần tổ chức thành hệ thống để có thể thực hiện mục tiêu trên.

Tập thể học sinh Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức được tổ chức theo một cơ cấu tự trị thành hệ thống từ trên xuống dưới :

a/ Ban Chấp Hành Học Sinh :

- Trưởng Ban Chấp hành

- Phó Trưởng ban Nội Vụ

- Phó Trưởng Ban Ngoại Vụ

- 2 Trưởng Ban Yểm Trợ

- 5 Trưởng Khối Chuyên Môn.

b/ Ban Yểm Trợ:

- Trưởng ban An Sinh và một số ủy viên tùy theo nhu cầu của Ban Chấp Hành học sinh.

- Trưởng Ban Hành chánh-Tài chánh và 4 ủy viên

c/ Khối Chuyên Môn :

Gồm các Khối Học tập, Văn nghệ, Báo chí, Thể thao, và Xã hội. Mỗi Khối có một Trưởng Khối và 4 ủy viên.

d/ Ban Đại Diện Cấp Lớp:

Mỗi Cấp Lớp có đại diện là Trưởng Cấp và Phó Trưởng Cấp.

e/ Ban Đại Diện Lớp:

- Trưởng lớp

- Liên Đội trưởng

- Liên đội phó

- Thư ký kiêm Thủ quỹ

- 5 Trưởng ban Chuyên môn

- Các Đội trưởng (mỗi Đội gồm từ 8 đến 10 học sinh của lớp, gọi là Đoàn viên)

Ngoài ra, Bản Qui chế còn ấn định nhiệm vụ, nhiệm kỳ, thể thức bầu cử cho mỗi nhân viên trong cơ cấu tổ chức trên.( Xem Sơ Đồ Tổ Chức Học Sinh )

Mỗi Ban trong cơ cấu tổ chức làm việc với sự hướng dẫn của giáo sư:

- Ban Chấp hành Học sinh làm việc với sự cố vấn của các giáo sư trong Ban Chấp Hành hiệu Đoàn.

- Ban Yểm trợ hợp tác mật thiết với Ban Kỷ luật, Trật tự của Phòng Học Sinh Vụ.

- Các Khối Chuyên môn làm việc với sự cố vấn của các giáo sư cố vấn khối.

- Các Ban Đại diện lớp làm việc với sự cố vấn của giáo sư Chủ nhiệm lớp.

Như vậy :

"-Giáo sư chỉ giữ vai trò cố vấn, chỉ can thiệp khi cần thiết,

- Học sinh tự chỉ huy, đôn đốc, kiểm soát các sinh hoạt của mình với một tinh thần trách nhiệm tự giác.

- Triệt để khuyến khich kỷ luật tự giác và tinh thần hàng đội tự trị."

  • Sinh Hoạt của Học Sinh

 chào cờ

Lễ chào cờ sáng thứ Hai hàng tuần

 chart 2

a/ Sinh hoạt hàng ngày: hệ thống Trưởng lớp và Trưởng cấp lớp được giao nhiệm vụ chỉ huy, đôn đốc, kiểm soát các công việc hàng ngày :

- Tập hợp học sinh, xếp hàng, di chuyển.

- Kiểm soát lớp học, phụ trách sổ sách, giấy tờ của lớp, vệ sinh lớp.

b/Sinh hoạt hàng tuần:

- Sinh hoạt các bộ môn thể thao,

- Tập dượt hay trình diễn văn nghệ cộng đồng,

- Sinh hoạt các khối, các nhóm ,

- Sinh hoạt học tập: tổ chức thuyết trình, du khảo, chiếu phim, tổ chức triển lãm,

- Sinh hoạt báo chí : bích báo, nội san,...

Đặc biệt là chương trình sinh hoạt Trại. Trại thường được tổ chức từ một đến nhiều ngày, mỗi Trại được tổ chức theo một chủ đề : Huấn luyện, Du khảo, Hội thảo,.....

Sinh hoạt Trại có tính cách huấn luyện tinh thần tập thể, hòa mình với cộng đồng, tập tháo vát và thích nghi trong công việc, gây tinh thần trách nhiệm cùng sự hăng hái làm việc.

Bảng Thống Kê Số Lớp Học (1965-1974)

Lớp/ năm

6

7

8

9

10

11

12

Tổng Số

1965

4

4

-

-

-

-

-

8

1966

4

4

4

-

-

-

-

12

1967

4

4

4

4

-

-

-

16

1968

4

4

4

4

6

-

-

22

1969

4

4

4

4

6

6

-

28

1970

4

4

4

4

6

6

6

34

1971

4

4

4

4

6

6

6

34

1972

4

4

4

4

6

6

6

34

1973

4

4

4

4

6

6

6

34

1974

4

4

4

4

5

6

5

32

Xuất xứ tài liệu : Phòng Học Vụ trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức.

 

 chart 3

Bảng Thống Kê số Học Sinh (1965-1974)

Năm Học

Sĩ Số Nam

Sĩ Số Nữ

Tổng Số

Sĩ số thôi học + ra trường

1965

182

92

274

-

1966

248

162

410

4

1967

315

231

546

4

1968

380

303

683

3

1969

445

365

810

13

1970

501

427

928

22

1971

497

430

927

16 + 125

1972

477

460

937

18 + 122

1973

468

484

952

15 + 100

1974

417

450

876

?

               Xuất xứ tài liệu: Phòng Học Vụ trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức

 chart 4

 vào lớp

Di chuyển vào lớp học

 

 bDD học sinh

Ban Đại Diện Học Sinh 1966-1967

 

 sinh hoạt

Một tiết mục sinh hoạt chiều thứ Tư

 



     [1] Gs. Dương Thiệu Tống.

      [2] Niên khóa đầu tiên 1965-1966, Trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức

(Trở lại)

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates