Slides

Tranh vẽ - Mai Ly k7

Thành Quả

Trước khi nói về thành quả của trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ) nói riêng và chương trình giáo dục tổng hợp (GDTH) nói chung, chúng ta cần lưu ý những điểm như sau: 

  • Trường Trung học KMTĐ và GDTH là một thử nghiệm dang dở, chưa toàn vẹn (chỉ năm khoá học sinh tốt nghiệp).
  • Đây là một thử nghiệm trong một hoàn cảnh không thích hợp (thời chiến tranh thay vì thời hoà bình).
  • Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu, tìm hiểu (survey) nghiêm túc và khách quan hay một bản đúc kết khoa học nào cho cuộc kiểm nghiệm này. 

Nói chung, thành quả của GDTH tại KMTĐ có thể đánh giá bằng hai cách khác nhau.  Một cách đánh giá giới hạn, nhìn từ quan điểm kế hoạch chính sách, là thử xét xem các hoạt động của trường Trung học KMTĐ đã đáp ứng được các mục tiêu thành lập trường hay không?  Một cách đánh giá xa hơn, từ lối nhìn kinh tế, là thử xét xem GDTH tại trường Trung học KMTĐ có mang lại lợi ích ròng (net benefit) hay không?  Nhìn từ quan điểm “giáo dục vị nhân sinh” này, GDTH có thể xem là thành công nếu lợi ích của GDTH (so với tổn phí GDTH) cao hơn lợi ích của giáo dục phổ thông/kỹ thuật chuyên nghiệp cùng thời (so với tổn phí của các nền giáo dục này). 

Dựa trên ba mục tiêu và nhiệm vụ của KMTĐ trong Nghị định sáng lập trường, chúng ta có thể kết luận KMTĐ là một thí nghiệm đã thành công trên các phương diện sau đây: 

  • trong những điều kiện hoạt động rất khó khăn, Ban Giám Đốc và Giảng Huấn KMTĐ đã hoàn thành và áp dụng tốt đẹp một chương trình GDTH cho cả bảy năm trung học tại trường;[1]
  • KMTĐ đã giúp phổ biến các bộ môn hướng nghiệp đến các trường Dẫn Đạo, bước tiến thứ hai trong quá trình cải tổ giáo dục trung học thời đó;
  • Một phần của GDTH KMTĐ đã được Bộ Giáo Dục dùng làm căn bản cho chương trình trung học tổng hợp toàn miền Nam.

 Các trường Kiểu Mẫu Huế và Kiểu Mẫu Thủ Đức có thể xem là bước đầu trong kế hoạch cải tổ giáo dục trung học tại miền Nam Việt Nam.  Bước thứ nhì là lan truyền mô hình GDTH từ các trường Kiểu Mẫu đến các trường Dẫn Đạo (Pilot Schools).  Theo kế hoạch ban đầu của Bộ Giáo Dục, trong năm 1969 có tất cả 12 trường Trung Học Dẫn Đạo trên khắp miền Nam như sau (xem Ohio University Contract Team 1969, trang 164–169):

  • Trần Quốc Tuấn (Quảng Ngãi), Gia Hội (Huế) và Ban Mê Thuột tại Vùng 1;
  • Nguyễn Huệ (Tuy Hoà), Lý Thường Kiệt và Cộng Đồng tại Vùng 2;
  • Quốc Gia Nghĩa Tử (Saigon), Mạc Đĩnh Chi (Saigon) và Bến Tre tại Vùng 3;
  • Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá), Phan Thanh Giản (Cần Thơ) và Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) tại Vùng 4.

 Trường KMTĐ đã đóng vai trò chủ động trong việc phát huy chương trình GDTH đến các trường Dẫn Đạo.  Các hoạt động cụ thể gồm có:

  • Với sự ủy nhiệm của Khoa trưởng ĐHSP Saigon, Thầy Phạm Văn Quảng (lúc đó là Hiệu trưởng KMTĐ) đã thuyết trình trong các hội thảo giáo dục tại các thành phố lớn về triết lý GDTH, cơ cấu tổ chức và hành chính, chương trình học tập, sinh hoạt hiệu đoàn, vv;
  • Một số giáo sư trong các bộ môn hướng nghiệp như Doanh Thương, Công Kỹ Nghệ (CKN) và Kinh Tế Gia Đình (KTGĐ) và môn Hướng Dẫn Đức Dục và Khải Đạo cũng tham gia giải thích nội dung giáo trình và phương pháp giảng dậy các môn này;
  • Trường KMTĐ đã cung cấp nhân viên cho các khoá đào tạo Giáo viên Đệ nhất cấp cho các bộ môn hướng nghiệp.  Giám đốc khoá đào tạo này là Thầy Phan Thanh Hoài và Ban Giáo sư gồm có các Thầy Cô Phan Thanh Hoài , Nguyễn Kim Hồng, Bùi Kiêm Nhiệm, Võ Thị Nguyệt, Trần Cẩm Hồng, Nguyễn Văn Nam, Lâm Hoàng Minh, Huỳnh Thị Bạch Tuyết và Dương Thị Kim Sơn (xem Phạm Văn Quảng và Dương Thị Kim Sơn 2005).
  • Một số học sinh Khoá 1 KMTĐ đã tốt nghiệp khoá Giáo viên Đệ nhất cấp này và ra làm việc cho các trường Trung Học Dẫn Đạo. 

Hình 1: Thầy Phan Thanh Hoài thuyết giảng môn Doanh Thương
cho một số Hiệu trưởng trường Trung học Dẫn Đạo, mùa Xuân 1967. 

Dĩ nhiên, các trường Dẫn Đạo không thể nào áp dụng hoàn toàn GDTH KMTĐ vì mô hình này đòi hỏi quá nhiều điều kiện như đã đề cập bên trên.  Vì thế, các trường tổng hợp Dẫn Đạo chỉ có thể mang các bộ môn hướng nghiệp vào chương trình học.  Lúc đầu vì thiếu giáo sư, giáo viên chuyên môn trầm trọng nên chương trình giảng dạy các môn này tại các trường Dẫn Đạo hầu như là một sự chắp nối.  Về sau, khi các giáo viên chuyên môn tốt nghiệp ĐHSP Saigon, và được bổ về làm việc tại các trường Dẫn Đạo thì việc giảng dạy mới dần dần trở thành có hệ thống và đồng nhất hơn. 

Hình 2: Thầy Trần Cẩm Hồng giải thích môn CKN
cho các Hiệu trưởng trường Trung học Dẫn Đạo (1967). 

Bước thứ ba trong kế hoạch cải tổ là chính thức áp dụng GDTH trong giáo dục bậc trung học.  Đến cuối năm 1971, Bộ Giáo Dục ban hành cuốn Chương Trình Trung Học Tổng Hợp Bậc Đệ Nhất và Nhị Cấp.  Theo chính sách này các môn Doanh Thương, Canh Nông, CKN và KTGĐ tại KMTĐ sẽ được dùng làm căn bản cho các môn hướng nghiệp trong chương trình tổng hợp toàn miền Nam (xem Người Phóng Viên 1973, trang 15).  Đến năm 1972, khi chương trình kiểm nghiệm GDTH được xem là thành công, Bộ Giáo Dục quyết định áp dụng chương trình GDTH cho một số lớn trường trung học trong miền Nam với danh xưng: trường Trung học Tổng hợp (THTH, xem Lê Văn 2000, trang 6).  Các trường với danh xưng THTH đó chính là các trường trung học Dẫn Đạo trước kia được đổi tên và một số mở sau này, ví dụ như các trường Nguyễn An Ninh, Sương Nguyệt Ánh và Trung Học Quận 8 (xem Phạm Văn Quảng và Dương Thị Kim Sơn, 2/8/2005).  Đây được xem là giai đoạn cuối của kế hoạch cải tổ với sự thành hình của GHTH.  Như vậy, đến thời điểm này, việc cải tổ giáo dục bậc trung học miền Nam Việt Nam có thể được xem như là có chiều sâu, nhưng chưa có chiều rộng.  Tuy nhiên, vì những chuyển biến lớn lao của lịch sử Việt Nam, kế hoạch cải cách này đã chấm dứt đột ngột năm 1975. 

Đo lường và thẩm định thành quả của một chương trình giáo dục từ quan điểm kinh tế đòi hỏi một mô thức hợp lý và rất nhiều dữ kiện, số liệu (vừa định lượng vừa định tính) khách quan, khả tín mà chỉ có một nghiên cứu khoa học sâu rộng và tốn kém mới cung cấp nổi. Vì nhiều lý do, kể cả lý do lịch sử, một công trình như vậy đã không xảy ra cho trường Trung học KMTĐ.  Do đó, đánh giá thành quả của trường Trung học KMTĐ từ góc cạnh kinh tế là chuyện không thể được.  Tuy nhiên, chúng ta có thể tạm đánh giá thành quả của GDTH KMTĐ một cách gián tiếp và định tính dựa trên một số nhận xét về giá trị thêm vào của GDTH cho các học sinh KMTĐ như sau: 

  • Học sinh KMTĐ khi mới nhập học không phải là những học sinh ưu tú được chọn lọc gay go như những học sinh các trường công lập phổ thông có tiếng và lâu đời tại Saigon.
  • Tỉ lệ học sinh KMTĐ thi đậu và tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng trong nước tương đối cao so với các bất lợi về thi cử mà các học sinh này phải đối đầu.
  • Các học sinh KMTĐ chuyên về các ngành hướng nghiệp phần lớn đã chứng tỏ đầu óc tháo vát và khả năng ứng dụng các kỹ năng học trong trường.
  • Tỉ lệ học sinh KMTĐ xin được học bổng du học khá cao so với các học sinh trung học phổ thông tại Saigon.
  • Cựu học sinh KMTĐ tại nước ngoài, dưới nhiều điều kiện học tập khác nhau, tương đối đều thành công trong con đường giáo dục hậu trung học và việc làm. 

Như vậy, triết lý GDTH KMTĐ có thể xem là đã thành công theo nghĩa không phí phạm nhân lực, nhân tài và giúp học sinh phát triển theo năng khiếu, sở thích của mình. 

Nói tóm lại, mô hình GDTH qua cách tổ chức nhà trường, các môn học hướng nghiệp, phương pháp giảng dạy,  sinh hoạt học đường,  vv là một di sản tinh thần to lớn của trường Trung học KMTĐ.  Nếu biết khôi phục, điều chỉnh cho hợp thời và khéo léo tận dụng, đây chính là những vật liệu vô cùng quan trọng và quý báu cho việc xây dựng một mô hình giáo dục trung học thích hợp cho Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, toàn vùng hoá hiện thời. 

Trần Nam Bình k2 biên soạn

__________________________________

Tài liệu Tham khảo 

Đại Học Sư Phạm Saigon, Trường Trung-Học Kiểu-Mẫu Thủ-Đức, Niên-Khoá 1970–1971, Kỷ Yếu, Saigon, 1971.

Lê Văn (2000), “Lược Sử Trường Đại Học Sư Phạm Huế (1958–1964)”, Dòng Việt, Số 8, trang 3–7.

Người Phóng Viên (1973), “Vài thành quả bảy năm kiểm nghiệm giáo dục trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức”, Giai Phẩm Xuân Quý Sửu 73 Kiểu Mẫu Thủ Đức, Trung Học KMTĐ, trang 15–17.

Ohio University Contract Team (1969), Official Report, Ohio University, Athens.

Phạm Văn Quảng và Dương Thị Kim Sơn, “Thu Duc Demonstration Schools”,  2/8/2005.



[1] Nhưng cũng cần nhận rằng vì lý do thi cử hậu trung học, giáo trình các lớp 11 và 12 theo khá sát chương trình phổ thông bên ngoài.  Điều đó hàm nghĩa yếu tố độc lập và cải tiến của GDTH giảm dần trong những năm đệ nhị cấp.

[Trở Lại Trang Trước]

Tìm Kiếm

Cách Sử Dụng Trang kieumauthuduc.org

Free business joomla templates